TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M'GAR TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 15/2025/HSST Ngày: 26 – 3 - 2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M'GAR, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Dự
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Bùi Trọng Nghĩa
- Bà Nguyễn Thị Hoài Bão
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Đức Đuống – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư M'gar, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M'gar, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Châu – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cư M'gar, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: TRẦN THỊ N (tên gọi khác: Không); sinh năm 1995, tại tỉnh : Đắk Lắk; Nơi cư trú: Thôn H, xã Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; con ông: Trần Văn L – sinh năm 1962 và con bà: Huỳnh Thị T – sinh năm 1960; Bị cáo có chồng là ông Trần Văn L1 – sinh năm 1984, có 01 con sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không
- Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 23/01/2024 đến 26/01/2024 thì được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Họ và tên: NGUYỄN HỮU N1 (tên gọi khác: Không); sinh năm 1969, tại tỉnh : Cà Mau; Nơi cư trú: Thôn F, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 3/12; con ông: không rõ và con bà: Nguyễn Thị L2 (đã chết); Bị cáo có vợ là bà Bàn Thị Mỹ K – sinh năm 1967 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1987, con nhỏ nhất sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 23/01/2024 đến 26/01/2024 thì được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hữu N1 và Trần Thị N có mối quan hệ quen biết với nhau, quá trình quen biết, Nguyễn Hữu N1 sử dụng điện thoại di động hiệu Realme C53 màu đen, bên trong gắn sim số 0397.740.936, đăng ký tài khoản Zalo tên “Hữu Nghĩa” nhưng không lưu số điện thoại của N vào danh bạ. Trần Thị N sử dụng điện thoại di động Vivo Y15S màu xanh, bên trong gắn sim số: 0888.394.409, đăng ký tài khoản Zalo tên “N”, N lưu số điện thoại của N1 vào danh bạ với tên “Chú N Ca M” để liên lạc với nhau.
Chiều ngày 22/01/2025, Nguyễn Hữu N1 sử dụng bút bi cùng tờ giấy ô ly để đánh bạc dưới hình thức ghi số đề được thua bằng tiền với Trần Thị N, căn cứ thắng thua vào kết quả xổ số kiến thiết Đà Nẵng, mở thưởng ngày 22/01/2025. Sau đó, N1 dùng bút bi ghi số đề vào tờ giấy dãy số với nội dung: ĐÀ NẴNG. 22/01; 23x7,5; 27x32,5; 16x7,5; 81x5; 87x7,5; 47x10; 723x2,5; 727x2,5; 99x100; 53x5; 81x2,5; 16x2,5; 60x5; 06x5; 34x5; 43x5; 47x9; 32x7; 534x5; 178x2,5; 03x2; 35x2; 74x2; 22x2; 86x10; 46x10; 88x100; 588x50; 28x2; 82x2; ĐĐ 10.16.10; 5.27.5; 10.47.10; 10.686.10; 5.776.5. Sau khi ghi dãy số trên vào tờ giấy, N1 sử dụng điện thoại di động chụp lại hình ảnh rồi sử dụng Zalo “H” gửi đến tài khoản Zalo tên “Ngọc D” cho Trần Thị N để cá cược. Sau khi N nhận được phơi số đề do N1 gửi đến thì N đồng ý nhận cá cược thắng thua với N1 nên N sử dụng tài khoản Zalo tên “Ngọc D” nhắn lại “ok” gửi đến tài khoản Zalo “Chú Nghĩa Ca M” cho Nguyễn Hữu N1.
Giải thích dãy số mà Nguyễn Hữu N1 ghi trong tờ giấy ô ly như sau: Dãy số 23x7,5; 27x32,5; 16x7,5; 81x5; 87x7,5; 47x10; 99x100; 53x5; 81x2,5; 16x2,5; 60x5; 06x5; 34x5; 43x5; 47x9; 32x7; 03x2; 35x2; 74x2; 22x2; 86x10; 46x10; 88x100; 28x2; 82x2 có nghĩa là ghi số lô hai chân với hai số cuối của 18 dãy số, từ giải 8 đến giải đặc biệt, tổng số điểm là 348 điểm x 13.000 đồng/01 điểm = 4.524.000 đồng. Dãy số 723x2,5; 727x2,5; 534x5; 178x2,5; 588x50 có nghĩa là ghi số lô ba chân với ba số cuối của 17 dãy số, từ giải 7 đến giải đặc biệt, tổng số điểm là 62,5 điểm x 13.000 đồng/01 điểm = 812.500 đồng. Dãy số 10.16.10; 5.27.5; 10.47.10 có nghĩa là ghi số đề đầu cuối của giải 8 và hai số cuối của giải đặc biệt, tổng số tiền là 40.000 đồng. Dãy số 10.686.10; 5.776.5 có nghĩa là ghi số đề đầu cuối của giải 7 và ba số cuối của giải đặc biệt, tổng số tiền là 24.000 đồng. Tổng số tiền N1 tham gia đánh bạc với N dưới hình thức ghi số đề là 5.400.500 đồng. Khi thắng cược thì số lô hai chân sẽ thắng được gấp 70 lần, số lô ba chân sẽ thắng được gấp 500 lần, số đề đầu cuối sẽ thắng được gấp 70 lần, số đề ba chân sẽ thắng cược được gấp 500 lần, còn thua cược thì thua số tiền đã đặt cược ghi số đề.
Căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết Đà Nẵng mở thưởng ngày 22/01/2025, Nguyễn Hữu N1 thắng cược số 88 x100 điểm x 70.000đồng/01điểm = 7.000.000 đồng; thắng cược số 35x2 điểm x 70.000 đồng/01 điểm = 140.000 đồng, tổng số tiền Nguyễn Hữu N1 thắng cược là 7.140.000 đồng. Tổng số tiền Nguyễn Hữu N1 tham gia đánh bạc dưới hình thức ghi số đề với Trần Thị N là 12.540.500 đồng. Số tiền đánh bạc và thắng bạc N1 và N chưa trả cho nhau.
Tại kết luận giám định số 309/KL – KTHS ngày 21/02/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận: Chữ viết bắt đầu bằng các chữ “ĐÀ NẴNG. 22/01 23x7,5...”, kết thúc bằng chữ số “...5.776.5 trên tài liệu cần giám định kí hiệu Al so với chữ viết mang tên Nguyễn Hữu N1 trên các tài liệu mẫu so sánh kí hiệu M1, M2, M3, do cùng một người viết ra.
Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 27/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M'gar, tỉnh Đắk Lắk đã truy tố các bị cáo Trần Thị N, Nguyễn Hữu N1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Thị N, Nguyễn Hữu N1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M'gar, tỉnh Đắk Lắk đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của các bị cáo và giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Trần Thị N, Nguyễn Hữu N1 phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Thị N mức án từ 15 tháng đến 18 tháng nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu N1 mức án từ 12 tháng đến 15 tháng từ nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.
* Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- Đối 01 điện thoại di động hiệu Realme C53 màu đen, số IMEI 1: 869720067248693, số IMEI 2: 869720067248685, bên trong gắn sim số 0397.740.936 của Nguyễn Hữu N1 và 01 điện thoại di động Vivo Y15s, màu xanh số IMEI 1: 867251055931142, số IMEI 2: 867251055931159, bên trong gắn sim số: 0888.394.409 của Trần Thị N. Ngày 22/01/2025, Nguyễn Hữu N1 và Trần Thị N đã sử dụng điện thoại trên để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 cây bút bi mực xanh, trên thân bút dán tem TL-036; ký hiệu 8935001800651, là công cụ để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 tờ giấy có nội dung bắt đầu bằng chữ “ĐÀ NẴNG. 22/01 23x7,5...”, kết thúc bằng chữ số “...5.776.5” cần lưu giữ trong hồ sơ.
- Đối với số tiền 5.400.500 đồng mà Nguyễn Hữu N1 sử dụng để tham gia đánh bạc với Trần Thị N nhưng chưa đưa tiền. Vì vậy, cần truy thu 5.400.500 đồng của Nguyễn Hữu N1 sung ngân sách nhà nước.
- Đối với số tiền 7.140.000 đồng mà Nguyễn Hữu N1 đã thắng đề, Trần Thị N chưa đưa cho Nguyễn Hữu N1. Vì vậy, cần truy thu số tiền 7.140.000 đồng của Trần Thị N sung ngân sách nhà nước.
Các bị cáo không bào chữa, tranh luận gì, mà chỉ xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M'gar, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã tuân thủ đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo không ai có ý kiến hoặc khiếu nại đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và hình phạt:
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai mà các bị cáo đã khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ căn cứ pháp lý để kết luận:
Vào ngày 22/01/2025, tại huyện C, tỉnh Đắk Lắk, Trần Thị N tham gia đánh bạc dưới hình thức ghi số đề được thua bằng tiền Việt Nam đồng với Nguyễn Hữu N1 dựa trên kết quả xổ số kiến thiết Đà Nẵng mở thưởng ngày 22/01/2025 để tính toán thắng thua. Tổng số tiền mà Trần Thị N nhận ghi số đề với Nguyễn Hữu Nghĩa là 5.400.500 đồng. Căn cứ vào kết quả xổ số thì N1 thắng số tiền 7.140.000 đồng. Tổng số tiền mà Trần Thị N và Nguyễn Hữu N1 tham gia đánh bạc với nhau là 12.540.500 đồng.
Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
....;
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo Trần Thị N, Nguyễn Hữu N1 là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo đều là những người có đầy đủ khả năng nhận thức, khả năng điều khiển được hành vi của mình và nhận thức được rằng hành vi đánh bạc được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, là tệ nạn xã hội mà Nhà nước nghiêm cấm. Tuy nhiên, xuất phát từ ý thức muốn có tiền bằng con đường bất chính nên các bị cáo đã bất chấp pháp luật và cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, do đó các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện. Xét trong vụ án này các bị cáo phạm tội với tính chất, mức độ hành vi phạm tội khác nhau nên Hội đồng xét xử cần đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của mỗi bị cáo, trên cơ sở đó cụ thể hoá mức hình phạt đối với từng bị cáo cho phù hợp. Bị cáo Trần Thị N là người trực tiếp ghi số đề cho bị cáo Nguyễn Hữu N1 và là người chủ đề để thắng thua với bị cáo N1 nên Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi của bị cáo, cao hơn mức hình phạt của bị cáo N1.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 nên Hội đồng xét xử cần áp dụng khi xem xét quyết định hình phạt đối với các bị cáo thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật nhà nước ta.
Xét quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phù hợp, đúng quy định pháp luật.
Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo Trần Thị N, Nguyễn Hữu N1 có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà để bị cáo tự cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình vẫn đảm bảo tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
[3] Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng của vụ án:
- Đối 01 điện thoại di động hiệu Realme C53 màu đen, số IMEI 1: 869720067248693, số IMEI 2: 869720067248685 của Nguyễn Hữu N1 và 01 điện thoại di động Vivo Y15s, màu xanh số IMEI 1: 867251055931142, số IMEI 2: 867251055931159 của Trần Thị N. Ngày 22/01/2025, Nguyễn Hữu N1 và Trần Thị N đã sử dụng điện thoại trên để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 cây bút bi mực xanh, trên thân bút dán tem TL-036; ký hiệu 8935001800651, 01 thẻ sim số 0888.394.409 của Trần Thị N; 01 thẻ sim số 0397.740.936 của Nguyễn Hữu Nghĩa là công cụ để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 tờ giấy có nội dung bắt đầu bằng chữ “ĐÀ NẴNG. 22/01 23x7,5...”, kết thúc bằng chữ số “...5.776.5” cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ.
- Đối với số tiền 5.400.500 đồng mà Nguyễn Hữu N1 sử dụng để tham gia đánh bạc với Trần Thị N nhưng chưa đưa tiền. Vì vậy, cần truy thu 5.400.500 đồng của Nguyễn Hữu N1 sung ngân sách nhà nước.
- Đối với số tiền 7.140.000 đồng mà Nguyễn Hữu N1 đã thắng đề, Trần Thị N chưa trả cho Nguyễn Hữu N1. Vì vậy, cần truy thu số tiền 7.140.000 đồng của sung ngân sách nhà nước
[4] Về án phí: Các bị cáo Trần Thị N, Nguyễn Hữu N1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị N, Nguyễn Hữu N1 phạm tội “Đánh bạc”.
[2] Về điều luật áp dụng và hình phạt:
* Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
+ Xử phạt: Bị cáo Trần Thị N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
+ Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu N1 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trần Thị N cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk là nơi bị cáo thường trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Giao bị cáo Nguyễn Hữu N1 cho Ủy ban nhân dân xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk là nơi bị cáo thường trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[4] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Truy thu bị cáo Nguyễn Hữu N1 số tiền 5.400.500 đồng để sung ngân sách nhà nước
- Truy thu bị cáo Trần Thị N số tiền 7.140.000 đồng để sung ngân sách nhà nước
- Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án đối với 01 tờ giấy có nội dung bắt đầu bằng chữ “ĐÀ NẴNG. 22/01 23x7,5...”, kết thúc bằng chữ số “...5.776.5"
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước đối với 01 điện thoại di động hiệu Realme C53 màu đen, số IMEI 1: 869720067248693, số IMEI 2: 869720067248685 và 01 điện thoại di động Vivo Y15s, màu xanh số IMEI 1: 867251055931142, số IMEI 2: 867251055931159 của Trần Thị N.
- Tịch thu tiêu hủy 01 cây bút bi mực xanh, trên thân bút dán tem TL-036; ký hiệu 8935001800651; 01 thẻ sim số 0888.394.409 của Trần Thị N; 01 thẻ sim số 0397.740.936 của Nguyễn Hữu N1.
(Vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cư M'gar, tỉnh Đắk Lắk, đặc điểm cụ thể theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/02/2025).
[5] Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Trần Thị N, Nguyễn Hữu N1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[6] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận :
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Huỳnh Văn Dự |
Bản án số 15/2025/HSST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M'GAR, TỈNH ĐẮK LẮK về hình sự - đánh bạc
- Số bản án: 15/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M'GAR, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo phạm tội đánh bạc
