|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL TỈNH ĐẮK NÔNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 15/2025/HS-ST Ngày: 24-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vi Thế Nam.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trương Văn Cường; Ông Nguyễn Tiến Tịnh.
Thư ký phiên tòa: Ông Lý Khởi Vinh – Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Anh Đức – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2025/HSST, ngày 13 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Phạm Văn S, sinh năm 1975; Nơi sinh: tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Hữu C, sinh năm 1955 và bà Hoàng Thị N, sinh năm 1954; đã ly hôn vợ; có 01 con, sinh năm 1998; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 26/6/2014 bị Tòa án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo đã chấp hành xong bản án, xóa án tích; Ngày 31/8/2015 bị Tòa án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo đã chấp hành xong bản án, xóa án tích. Bị tạm giữ từ ngày 20/11/2024, đến ngày 29/11/2024 chuyển tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đ (nay là P trại tạm giam khu vực Đ, thuộc trại tạm giam Công an tỉnh Đ) cho đến nay (Có mặt).
- - Bị hại: Điện lực Đ; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
- Người đại diện theo ủy quyền của bị hại: Ông Lục Văn T; sinh năm 1971; Địa chỉ: Tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Vắng mặt.
-
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị P1; sinh năm 1979; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Vắng mặt.
- Ông Vũ Quang B; sinh năm 1976; Địa chỉ: Thôn B, xã I, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 17/11/2024, Phạm Văn S điều khiển xe mô tô biển số 47M5 - 9131 đến khu vực huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Khi đến trụ sở Điện lực Đắk M thấy không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Phạm Văn S dừng xe, lén lút vào trong khuôn viên của trụ sở Điện lực Đ rồi trèo lên xe ô tô biển số 48C - 058.56. Phạm Văn S dùng 01 cái kìm tháo 03 đoạn dây xích sắt và 02 bình ắc-quy rồi mang ra ngoài, bỏ vào 01 giỏ nhựa sau đó điều khiển xe mô tô biển số 47M5 - 9131 chở đến cửa hàng thu mua phế liệu của bà Trần Thị P1 tại thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Phạm Văn S bán 03 đoạn dây xích sắt và 02 bình ắc-quy đã trộm cắp cho bà P1 được 870.000 đồng, rồi tiêu xài hết.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 100/KL-HĐĐGTS, ngày 26/11/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, tỉnh Đắk Nông kết luận: 02 bình ắc-quy nước, nhãn hiệu Dongnai loại 12V-70AH, có giá trị là 2.000.000 đồng; 01 đoạn dây xích sắt 8, dài 2,88m, có giá trị là 130.000 đồng; 01 đoạn dây xích sắt 8, dài 3,17m, có giá trị là 140.000 đồng; 01 đoạn dây xích sắt 10, dài 2,6m, có giá trị là 140.000 đồng; 02 móc sắt dùng cho dây xích sắt 8, có giá trị là 80.000 đồng; 01 móc sắt dùng cho dây xích sắt 10, có giá trị là 40.000 đồng. Tổng giá trị là 2.530.000 đồng.
Vật chứng đã thu giữ: 02 đoạn dây xích 8 có gắn móc sắt, 01 đoạn dây xích sắt 10 có gắn móc sắt; 02 bình ắc-quy nhãn hiệu Dongnai, loại 12V, N70, màu trắng, đen (có số sê-ri lần lượt là 332111210365, 332111210383) và xe mô tô nhãn hiệu Arrow.7 biển số 47M5 – 9131 (Phạm Văn S mua của ông Vũ Quang B nhưng chưa làm thủ tục sang tên).
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã truy tìm đối với 01 cái kìm và 01 giỏ nhựa màu đen nhưng không thu giữ được.
Cáo trạng số: 10/CT-VKS(ĐM), ngày 12 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Mil đã truy tố bị cáo Phạm Văn S về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Mil đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Mil thực hành quyền công tố luận tội và tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn S từ 09 tháng đến 01 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 20/11/2024. Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị: Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại 02 đoạn dây xích 8 có gắn móc sắt, 01 đoạn dây xích sắt 10 có gắn móc sắt; 02 bình ắc-quy cho chủ sử hữu hợp pháp. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước xe mô tô nhãn hiệu Arrow.7 biển số 4M5 - 9131 là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Truy thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 870.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có.
Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được thẩm tra công khai tại phiên toà, do đó Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 21 giờ ngày 17/11/2024, tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, Phạm Văn S đã lén lút trộm cắp của Điện lực Đ 02 đoạn dây xích 8 có gắn móc sắt, 01 đoạn dây xích sắt 10 có gắn móc sắt; 02 bình ắc-quy. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 2.530.000 đồng.
Như vậy, đã đủ căn cứ kết luận hành vi bị cáo Phạm Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”
...
Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil tại phiên tòa là có căn cứ.
[3] Xét bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo gây ra nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản thuộc sở hữu của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ để áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, thu nhập không ổn định nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
[7] Vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước xe mô tô biển số 47M5 - 9131 là phương tiện của bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
Truy thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 870.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có.
Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã: Trả lại 02 đoạn dây xích 8 có gắn móc sắt, 01 đoạn dây xích sắt 10 có gắn móc sắt, 02 bình ắc-quy cho điện lực Đ là chủ sở hữu hợp pháp.
[8] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí toà án. Buộc bị cáo Phạm Văn S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn S 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 20/11/2024.
-
Vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước xe mô tô biển số 47M5 - 9131. (Vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 14/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk Mil)
Truy thu đối với bị cáo Phạm Văn S số tiền 870.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã: Trả lại 02 đoạn dây xích 8 có gắn móc sắt, 01 đoạn dây xích sắt 10 có gắn móc sắt, 02 bình ắc-quy cho điện lực Đ là chủ sở hữu hợp pháp.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí toà án. Buộc bị cáo Phạm Văn S phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Bị hại vắng có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Vi Thế Nam |
Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 15/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn S phạm tội trộm cắp tài sản
