|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R'LẤP TỈNH ĐẮK NÔNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 04/2025/HNGĐ-ST Ngày 21-3-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R'LẤP TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: ông Vũ Văn Tuân.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Vân và bà Lê Thị Nguyệt.
- Thư ký phiên tòa: bà Đoàn Thị Vân – Thư ký TAND huyện Đắk R'lấp.
- Đại diện VKSND huyện Đắk R'lấp tham gia phiên toà: ông Nguyễn Ngọc P - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đắk R'lấp, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 303/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 06 tháng 3 năm 2025 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Huyền T năm 1995; địa chỉ: Xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An – vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Trọng P1sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông– vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị Huyền T1 trình bày: Chị T9 anh Nguyễn Trọng P1 nguyện chung sống với nhau từ năm 2020 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đhuyện Đngày 17/3/2020; sau khi kết hôn anh chị sinh sống Thôn T, xã Đ, huyện Đ năm 2022 thì ly thân; anh P4 vẫn cư trú tại thôn T, xã Đ chị T9 con chuyển về Xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Anh chị chung sống và kết hôn trên cơ sở tự nguyện không bị lừa dối, ép buộc; cuộc sống giữa hai vợ chồng vẫn hạnh phúc, bình thường cho đến cuối năm 2022 thì thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, từ đó anh P4 có hành vi bạo hành đối với chị T2 nay anh chị không thể quay lại chung sống nên chị T3 cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh P4. Trong thời gian chung sống anh chị có 01 con chung là Nguyễn Trần Bảo Y ngày 16/10/2020, từ khi ly thân cho đến nay con vẫn ở với chị T9 đi học tại xã H, huyện H ly hôn chị T3 cầu được nuôi con và không yêu cầu anh P4 cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung chị T4 yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Trọng P2 bày: anh Nguyễn Trọng P3 ý ly hôn và giao con chung Nguyễn Trần Bảo Y1 chị T5 dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung chị T4 yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kiểm sát quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án là đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về giải quyết yêu cầu của đương sự: Nguyên đơn và bị đơn đều đồng ý ly hôn và giao con chung cho chị T5 dưỡng và và không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Chị T3 cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn với anh P1và yêu cầu nuôi con chung; anh chị có đăng ký kết hôn hợp pháp nên tranh chấp giữa các đương sự là "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn"; anh P1cư trú Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nôngnên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đắk R'lấp theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Chị T9 anh Plđã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhưng đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Tòa án giải quyết vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3]. Chị T9 anh P1xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp; anh chị thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Hiện nay anh chị không còn tình cảm, đã sống ly thân và không thể quay lại chung sống; các đương sự đều đồng ý ly hôn nên yêu cầu khởi kiện của chị T6 có căn cứ nên chấp nhận.
[4]. Chị T9 anh Plcó 01 con chung là Nguyễn Trần Bảo Y ngày 16/10/2020; chị T9 anh P1đều thống nhất chị T5 con nên giao cháu Yến cho chị T5 dưỡng và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
[5]. Về tài sản chung, nợ chung: Chị T9 anh P1không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
[6]. Về án phí: Chị T là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định của pháp luật, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp..
VÌ CÁC LẼ TRÊN,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị H T.
- Về hôn nhân: chị Trần Thị Huyền T7 hôn anh Nguyễn Trọng P4
- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Trần Bảo Y ngày 16/10/2020 cho chị Trần Thị Huyền T8 sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi), chị T4 yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; trường hợp lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình; không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về tài sản chung, nợ chung: chị Trần Thị Huyền T9 anh Nguyễn Trọng P5 yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Trần Thị Huyền T1 phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0003159 ngày 26 tháng 11 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đắk R'lấp, tỉnh Đắk Nông.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Vũ Văn Tuân |
Bản án số 04/2025/HNGĐ-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R'LẤP TỈNH ĐẮK NÔNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 04/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK R'LẤP TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị T9 anh P1xác lập quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp; anh chị thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Hiện nay anh chị không còn tình cảm, đã sống ly thân và không thể quay lại chung sống nên yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn và nuôi con
