|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 15/2025/HS-ST Ngày 20-3-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thống.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đào Ngọc Ứng;
- Bà Ngô Thị Diễm Thúy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Lài - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Hồ Long Hồ - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2025/TLST-HS, ngày 10 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST-HS, ngày 06 tháng 3 năm 2025, đối với các bị cáo:
1. Vũ Minh C, sinh ngày 15/5/1997 tại Đồng Tháp; nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Vũ Phi K, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1975; gia đình có 02 anh, em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; vợ: Nguyễn Thị Xuân T (đã chết); con: Chưa có; tiền sự: Chưa có; tiền án: Chưa có; tạm giữ: Ngày 17/11/2024; tạm giam: Từ ngày 22/11/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Khu vực thành phố H, tỉnh Đồng Tháp (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
2. Thái Hữu P, sinh ngày: 10/01/1996 tại Đồng Tháp; nơi cư trú: khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 01/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1974 và bà Thái Hồng H1, sinh năm 1974 (chết); bị cáo là con duy nhất trong gia đình; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Chưa có; tiền án: Chưa có; tạm giữ: Ngày 17/11/2024; tạm giam: Từ ngày 22/11/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Khu vực thành phố H, tỉnh Đồng Tháp (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại: Bùi Thị C1, sinh ngày 23/01/2004 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: Khóm C, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Quốc T1, sinh ngày 28/6/2001 (vắng mặt);
- Nguyễn Thị S, sinh năm 1975 (có mặt).
Nơi cư trú: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Người làm chứng: Phạm Minh C2, sinh ngày 02/8/1991 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Tổ 1, ấp X, xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 09 giờ 25 phút, ngày 17/11/2024 chị Bùi Thị C1, sinh năm 2004 ngụ khóm C, phường A, thành phố H điều khiển xe mô tô biển số 66H1-500.98 lưu thông theo hướng từ phường A về phường A, thành phố H. Khi di chuyển đến khóm A, phường A, chị C1 dừng xe, lấy điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A16K, màu xanh - đen để nhắn tin cho người thân; thời điểm này Thái Hữu P điều khiển xe mô tô biển số 68B1-283.39 chở theo phía sau Vũ Minh C di chuyển cùng hướng với chị C1; khi chạy ngang nơi chị C1 đang dừng thì C thấy và nói với P về việc chị C1 đang cầm điện thoại trên tay nên cả hai nảy sinh ý định chiếm đoạt; P điều khiển xe mô tô quay lại áp sát vào xe chị C1, C ngồi phía sau giật điện thoại của chị C1 rồi điều khiển xe mô tô tẩu thoát khỏi hiện trường.
Sau khi giật được điện thoại, P điều khiển xe mô tô chở C đến khóm M, phường A, thành phố H thì C xuống xe đi tìm nhà người quen, còn P mang điện thoại vừa cướp giật được đến nhờ bạn tên Nguyễn Quốc T1 ngụ khóm A phường A chỉnh sửa, cập nhật chạy lại chương trình.
Sau sự việc xảy ra, chị Bùi Thị C1 đến Công an phường A, thành phố H trình báo. Qua xác minh, xét thấy vụ việc có dấu hiệu tội phạm nên Công an phường A đã chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H tiếp tục điều tra theo quy định. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H bắt khẩn cấp Vũ Minh C, Thái Hữu P.
- Vật chứng Cơ quan điều tra thu giữ và xử lý: 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Yamaha NVX, màu trắng, đen và xanh da trời, mang biển số 68B1-283.39, tình trạng đã qua sử dụng; xe do bà Nguyễn Thị S (mẹ ruột C) làm chủ sở hữu, việc C sử dụng vào mục đích phạm tội bà S không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà S; 01 (một) điện thoại di động màu xanh đen, nhãn hiệu Oppo A16K, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong. Đây là tài sản của bị hại Bùi Thị C1 nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị C1; 01 (một) mũ bảo hiểm xe máy, màu đen và màu xám, có phần lưỡi trai màu đen, tình trạng đã qua sử dụng, 01 (một) nón kết màu đen, có chữ màu trắng, đã qua sử dụng, 01 (một) áo khoác màu đen có viền màu cam, phía sau có hình ảnh, tình trạng đã qua sử dụng, 01 (một) quần jean màu xám, bị rách nhiều lỗ, tình trạng đã qua sử dụng 01 (một) áo sơ mi tay ngắn sọc vuông xanh - trắng, đã qua sử dụng, 01 (một) quần dài loại vải kaki, màu xanh, đã qua sử dụng, 01 (một) đôi dép màu đen - vàng, đã qua sử dụng, 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng (loại nón sơn), đã qua sử dụng (các vật chứng, đồ vật này Cơ quan Cảnh sát điều tra đã nhập kho vật chứng theo quy định nhằm phục vụ cho công tác điều tra, truy tố).
- Tại bản kết luận định giá tài sản số: 62/KL-HĐĐG ngày 19/11/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố H, kết luận: “Giá trị 01 (một) điện thoại di động màu xanh – đen, nhãn hiệu OPPO A16K, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng hoạt động là là 2.200.000 đồng.
Trong quá trình điều tra, Vũ Minh C và Thái Hữu P đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội đã thực hiện
Tại bản cáo trạng số: 08/CT-VKSTPHN, ngày 06 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp truy tố các bị cáo Vũ Minh C và Thái Hữu P về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự thực hành quyền công tố khẳng định hành vi của các bị cáo Vũ Minh C và Thái Hữu P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Vũ Minh C và Thái Hữu P về tội “Cướp giật tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Vũ Minh C từ 04 năm đến 05 năm tù.
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Thái Hữu P từ 03 năm đến 04 năm tù.
Về hình phạt bổ sung, xét thấy các bị cáo sống bằng nghề làm thuê, không có thu nhập ổn định, nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.
Đối với việc bà Nguyễn Thị S là chủ sở hữu xe mô tô biển số 68B1-283.39, xe mua của anh Phạm Minh C2, khi Vũ Minh C sử dụng xe và nói đi nhà bạn chơi, việc C sử dụng phương tiện xe mô tô đi cướp giật tài sản bà S không biết nên không đủ căn cứ xử lý bà S với vai trò đồng phạm tội “Cướp giật tài sản”, do đó không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.
Đối với việc Nguyễn Quốc T1 nhận sửa điện thoại di động hiệu OPPO A16K do Thái Hữu P cướp giật mà có. Qua điều tra, T1 không biết điện thoại này do P cướp giật mà có nên không đủ căn cứ xử lý T1 về hành vi “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” do đó không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 46 và Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) nón kết màu đen, có phần chữ màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) áo khoác màu đen phần viền màu cam, phía sau có hình ảnh, tình trạng đã qua sử dụng; 01 (một) quần jean màu xám, bị rách nhiều lỗ, tình trạng đã qua sử dụng; 01 (một) mũ bảo hiểm xe máy, màu đen và màu xám, có phần lưỡi trai màu đen, tình trạng đã qua sử dụng.01 (một) áo sơ mi tay ngắn sọc vuông xanh trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) quần dài loại vải kaki, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) đôi dép màu đen - vàng, đã qua sử dụng và 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng (loại nón sơn), đã qua sử dụng
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị hại Bùi Thị C1 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là 01 (một) điện thoại di động màu xanh đen, nhãn hiệu Oppo A16K, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.
Tại phiên tòa, các bị cáo Vũ Minh C và Thái Hữu P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Các bị cáo thống nhất với nội dung luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Vũ Minh C và Thái Hữu P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát
Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội. Do muốn nhanh có tiền tiêu xài mà các bị cáo đã thực hiện hành vi cướp giật tài sản của người khác, các bị cáo đã dùng thủ đoạn nguy hiểm, sử dụng xe mô tô là nguồn nguy hiểm cao độ tiếp cận bị hại đang ngồi trên xe mô tô để giật điện thoại di động của bị hại.
Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số: 62/KL-HĐĐG ngày 19/11/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố H, kết luận: “Giá trị 01 (một) điện thoại di động màu xanh – đen, nhãn hiệu OPPO A16K, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng hoạt động là 2.200.000 đồng.
Căn cứ vào lời khai nhận của các bị cáo, bị hại, người cò quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy đã có đủ căn cứ để kết luận hành vi của các bị cáo Vũ Minh C và Thái Hữu P đã phạm tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
Điều 171. Tội cướp giật tài sản
“1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) ...;
d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm”.
Tội phạm mà các bị cáo gây ra đã xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác, mặt khác còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Hiện nay tình hình cướp giật tài sản trên cả nước nói chung và trên địa bàn thành phố H nói riêng xảy ra ngày càng nhiều với thủ đoạn hết sức tinh vi. Nhằm để ổn định trật tự trị an ở địa phương, góp phần vào công cuộc phòng, chống và ngăn ngừa tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy phải xử phạt các bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
[3] Về nhân thân của bị cáo:
Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền sự, tiền án, nhưng do muốn nhanh có tiền để thỏa mãn nhu cầu cá nhân mà các bị cáo đã thực hiện hành vi cướp giật tài sản của người khác, hành vi phạm tội của các bị cáo thực hiện ngay ban ngày. Điều đó thể hiện các bị cáo thiếu ý thức tu dưỡng rèn luyện nhân cách, thể hiện bản chất bất chấp, xem thường pháp luật. Tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra là rất nguy hiểm nên phải xử lý nghiêm thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Cả 2 bị cáo đều được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là thành khẩn khai báo hành vi phạm tội đã thực hiện (điểm s), Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Xã hội chủ nghĩa.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Cả 02 bị cáo đều không có.
[5] Trong vụ án này có đồng phạm, nhưng thuộc đồng phạm giản đơn. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chức, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội mà từng bị cáo gây ra để quyết định mức hình phạt cho tương xứng.
Bị cáo Vũ Minh C là người khởi xướng, rủ rê bị cáo Thái Hữu P thực hiện hành vi phạm tội. Đồng thời bị cáo là người trực tiếp thực hiện hành vi cướp giật tài sản của bị hại. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội nên phải xử bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc hơn so với bị cáo Thái Hữu P để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
Đối với bị cáo Thái Hữu P, khi bị cáo C rủ rê bị cáo thực hiện hành vi cướp giật tài sản thì bị cáo đồng ý và thực hiện ngay. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với vai trò giúp sức tích cực, điều khiển xe mô tô chở bị cáo C để thực hiện hành vi cướp giật tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo cũng rất nguy hiểm cho xã hội nên phải xử lý nghiêm.
[6] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, căn cứ vào tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với từng bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: phải xử phạt các bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng một thời gian nhất định, để có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục cho các bị cáo thấy được lỗi lầm của mình, phấn đấu trở thành con người tốt có ích cho gia đình và xã hội. Có như thế mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời cũng nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho những ai có ý định phạm tội như các bị cáo.
[7] Đối với việc bà Nguyễn Thị S là chủ sở hữu xe mô tô biển số 68B1-283.39, xe mua của anh Phạm Minh C2, khi Vũ Minh C sử dụng xe và nói đi nhà bạn chơi, việc C sử dụng phương tiện xe mô tô đi cướp giật tài sản bà S không biết nên không đủ căn cứ xử lý bà S vai trò đồng phạm tội “Cướp giật tài sản”, do đó Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
[8] Đối với việc Nguyễn Quốc T1 nhận sửa điện thoại di động hiệu OPPO A16K do Thái Hữu P cướp giật mà có. Qua điều tra, T1 không biết điện thoại này do P cướp giật mà có nên không đủ căn cứ xử lý T1 về hành vi “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” do đó Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
[9] Về vật chứng:
Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho bà Nguyễn Thị S 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Yamaha NVX, màu trắng, đen và xanh da trời, mang biển số 68B1-283.39, tình trạng đã qua sử dụng vì xe là của bà Nguyễn Thị S (mẹ ruột C) làm chủ sở hữu, việc C sử dụng vào mục đích phạm tội bà S không biết và trả lại cho bị hại Bùi Thị C1 01 (một) điện thoại di động màu xanh đen, nhãn hiệu Oppo A16K, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong. Xét thấy, việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra là phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
Đối với 01 (một) nón kết màu đen, có phần chữ màu trắng; 01 (một) áo khoác màu đen phần viền màu cam, phía sau có hình ảnh; 01 (một) quần jean màu xám, bị rách nhiều lỗ; 01 (một) mũ bảo hiểm xe máy, màu đen và màu xám, có phần lưỡi trai màu đen, tình trạng đã qua sử dụng; 01 (một) áo sơ mi tay ngắn sọc vuông xanh trắng; 01 (một) quần dài loại vải kaki, màu xanh; 01 (một) đôi dép màu đen – vàng và 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng (loại nón sơn), tất cả đều đã qua sử dụng. Đây là đồ dùng cá nhân của Vũ Minh C và Thái Hữu P không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo. Theo quy định pháp luật phải trả lại cho các bị cáo, tuy nhiên những đồ vật này đã cũ, C và P không có nhu cầu nhận lại nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy là phù hợp với pháp luật.
[10] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo sống bằng nghề làm thuê, không có thu nhập ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.
Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy nội dung luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ và phù hợp pháp luật.
[11] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc các bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Vũ Minh C phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Xử phạt bị cáo Vũ Minh C 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ: Ngày 17/11/2024.
- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Thái Hữu P phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Xử phạt bị cáo Thái Hữu P 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ: Ngày 17/11/2024.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) nón kết màu đen, có phần chữ màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) áo khoác màu đen phần viền màu cam, phía sau có hình ảnh, tình trạng đã qua sử dụng; 01 (một) quần jean màu xám, bị rách nhiều lỗ, tình trạng đã qua sử dụng; 01 (một) mũ bảo hiểm xe máy, màu đen và màu xám, có phần lưỡi trai màu đen, tình trạng đã qua sử dụng.01 (một) áo sơ mi tay ngắn sọc vuông xanh trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) quần dài loại vải kaki, màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) đôi dép màu đen - vàng, đã qua sử dụng và 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng (loại nón sơn), đã qua sử dụng.
(Các vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/02/2025).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Vũ Minh C và Thái Hữu P mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 20/3/2025). Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Thống |
Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự về tội cướp giật tài sản
- Số bản án: 15/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN
