Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲNH LƯU

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 15/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 19 - 3 - 2025

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hồ Sỹ Mạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng Thu và bà Đặng Thị Thu Trang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Phương Quỳnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 337/2024/TLST-HNGĐ ngày 03/12/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2025 giữa:

- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị C, sinh năm 1995 - có mặt.

Nơi cư trú: Xóm T, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

- Bị đơn: Anh Hồ Thanh T, sinh năm 1991 - vắng mặt (có đơn đề nghị xử vắng mặt).

Nơi cư trú: Xóm T, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 17/6/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Hồ Thị C trình bày: Chị và anh Hồ Thanh T yêu nhau, quyết định đi đến hôn nhân. Vợ chồng kết hôn ngày 17/02/2023, đăng ký tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống và cách sống. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 5/2023. Từ tháng 11/2023, chị và con đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ đó đến nay. Hiện nay, vợ chồng đã chấm dứt mọi quan hệ tình cảm, không quan tâm, chăm sóc nhau trong cuộc sống. Nay chị xét thấy không còn tình cảm với anh Hồ Thanh T nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị và anh Hồ Thanh T có 01 con chung là Hồ Huyền D, sinh ngày 26/11/2023. Hiện nay con đang sống cùng với chị. Vợ chồng không có con nuôi, không ai có con riêng, hiện nay chị không mang thai. Theo đơn khởi kiện, chị có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi cháu D, yêu cầu anh T đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000₫ (năm triệu đồng). Tại bản tự khai đề ngày 16/12/2024 và tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 10/02/2025, chị thay đổi yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Về quan hệ tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

– Theo biên tự khai ngày 26/12/2024, anh Hồ Thanh T trình bày: Anh và chị Hồ Thị C tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn vào ngày 17/02/2023 tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Thời gian đầu tình cảm vợ chồng bình thường, đến cuối năm 2023 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách hai bên không hợp. Cuối năm 2023, chị C về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Quá trình mâu thuẫn, anh có sang nhà ngoại để khuyên bàn chị C quay về nhưng không có kết quả. Nay chị C yêu cầu ly hôn thì anh cũng đồng ý vì xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được.

Về con chung: Anh và chị C có 01 con chung là Hồ Huyền D, sinh ngày 26/11/2023. Hiện nay con đang sống cùng với chị C. Vợ chồng không có con nuôi, không có con riêng. Nếu ly hôn anh đồng ý giao con chung cho chị C được nuôi dưỡng vì con đang còn nhỏ. Anh không đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho chị C vì hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Tuy nhiên, anh sẽ có trách nhiệm với con khi có điều kiện kinh tế.

Về quan hệ tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kết quả xác minh tại UBND xã Q: Chị Hồ Thị C và anh Hồ Thanh T tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã Q vào ngày 17/02/2023. Vợ chồng có 01 con chung là cháu Hồ Huyền D, sinh ngày 26/11/2023. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn như thế nào địa phương không nắm rõ. Nay chị C yêu cầu ly hôn với anh T, yêu cầu được nuôi con chung đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Kết quả xác minh: Ông Hồ Đình L (là bố đẻ anh Hồ Thanh T) cung cấp thông tin: Anh T là con trai của vợ chồng ông. Sau khi kết hôn, anh T và chị C về chung sống cùng với vợ chồng ông. Đến ngày 18/11/2023, chị C xin về nhà bố mẹ đẻ ở một thời gian để tiện cho việc sinh đẻ và ở tại nhà bố mẹ đẻ từ đó đến nay. Trong thời gian ở nhà ngoại, chị C chỉ về nhà một vài lần để lấy đồ và sau đó làm đơn xin ly hôn với anh T. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa hai vợ chồng ông không biết vì trong quá trình sinh sống không thấy anh T, chị C cãi vã hay đánh đập nhau. Nay chị C nộp đơn xin ly hôn với anh T thì do hai bên tự quyết định, nếu không thể tiếp tục chung sống với nhau thì nên giải quyết ly hôn. Về con chung, do cháu D còn nhỏ nên giao cho chị C được nuôi dưỡng là phù hợp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định tại Điều 28, Điều 35, 39 và Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đối với người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định; bị đơn thực hiện không đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về đường lối giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật HNGĐ; Điều 28, 35, 39 và Điều 147, 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:

  • + Về tình cảm: Cho chị Hồ Thị C được ly hôn anh Hồ Thanh T.
  • + Về con chung: Giao con Hồ Huyền D, sinh ngày 26/11/2023 cho chị C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh T do chị C không yêu cầu. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
  • + Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
  • + Về án phí: Áp dụng Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/02016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Anh Hồ Thanh T đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Do đó, theo quy định tại Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị C thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

[2] Về sự vắng mặt của bị đơn: Anh Hồ Thanh T được Tòa án tống đạt hợp lệ thông thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng anh Hồ Thanh T đều vắng mặt không có lý do. Ngoài ra, anh T có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ vào quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt anh Hồ Thanh T.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Hồ Thị C với anh Hồ Thanh T là hợp pháp, tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình. Quá trình xác minh, thu thập chứng cứ thể hiện trong thời gian chung sống thời gian đầu vợ chồng tình cảm bình thường, sau đó dần phát sinh mâu thuẫn do nhiều bất đồng và không có tiếng nói chung. Vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện với nhau, được gia đình hai bên hòa giải nhưng không thành. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 11/2023 cho đến nay chấm dứt mọi quan hệ tình cảm, không còn quan tâm, chăm sóc nhau trong cuộc sống. Chị C yêu cầu được ly hôn và anh T đồng ý. Như vậy, chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị C và anh T ngày càng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị C; cho chị được ly hôn với anh Hồ Thanh T.

[5] Về con chung: Trong thời gian chung sống chị C và anh T có 01 con chung là Hồ Huyền D, sinh ngày 26/11/2023. Cháu D hiện nay đang sống cùng với chị C. Chị C có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con, anh T cũng đồng ý cho chị C được nuôi con. Do đó, cần giao cháu D cho chị C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục.

Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh T do chị C không yêu cầu. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng hoặc việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

[6] Về quan hệ tài sản: Các đương sự không ai yêu cầu giải quyết nên miễn xét.

[7] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39 và Điều 147, 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị C.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hồ Thị C được ly hôn anh Hồ Thanh T.
  2. Về con chung: Giao con chung là Hồ Huyền D, sinh ngày 26/11/2023 cho chị Hồ Thị C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục.

    Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Hồ Thanh T do chị Hồ Thị C không yêu cầu.

    Anh Hồ Thanh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng hoặc việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

  3. Về án phí: Chị Hồ Thị C phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp theo biên lai thu số 0005904 ngày 03 tháng 12 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a,7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND h.Quỳnh Lưu;
  • - Chi cục THADS h. Quỳnh Lưu;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Quỳnh Châu (nơi đăng ký kết hôn năm 2023);
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Sỹ Mạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HNGĐ-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 15/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: CHị Hồ Thị C Bị đơn: Anh Hồ Thanh T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger