TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG Bản án số: 15/2025/HS-ST Ngày 18-3-2025 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tuân và bà Nguyễn Thị Hoan
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Sơn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Loan- Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 09/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 01/TB ngày 04/3/2025 đối với bị cáo:
- Lò Văn Đ, sinh ngày 03/4/2005; Nơi ĐKHKTT: thôn N, xã N, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn P và bà Lò Thị T; gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/10/2024 đến ngày 01/11/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương đến nay, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Liên- Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hải Dương, có mặt.
- Người làm chứng:
- + Anh Vũ Xuân T, sinh năm 1977;
- + Anh Vũ Hồng T1, sinh năm 1971;
Những người làm chứng đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có việc làm nên Lò Văn Đ vào ứng dụng Zalo và quen với người có tài khoản Zalo tên "Văn Đ1" (không rõ địa chỉ cụ thể) đang tuyển nhân viên phục vụ các quán karaoke tại thành phố Hải Dương, và được người này thuê Đ xuống làm việc. Ngày 27/10/2024 Đ đi xe ô tô từ nhà xuống huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên thì được một người đàn ông tên H (không rõ họ tên, tuổi, địa chỉ, chỉ biết H sử dụng số điện thoại 0569.527....) điều khiển xe máy Yamaha Exciter, màu sơn đen (Đ không nhớ biển số xe) đón và chở đến thành phố Hải Dương làm thuê cho Đ1. Trong khi chờ Đ1 đến, H chở Đ vào nhà nghỉ Quỳnh Hoa (Đ không nhớ địa chỉ nhà nghỉ), để Đ thuê phòng nghỉ, còn H đi ra ngoài mua đồ ăn. Khoảng 18 giờ cùng ngày, H rủ Đ cùng đi mua pháo nổ, mục đích để bán kiếm lời, Đ đồng ý. H đưa số điện thoại 0562.014.... và đọc nội dung cho Đ dùng điện thoại Iphone 7 Plus vỏ màu đen của Đ lắp sim số 0984.172.... nhắn tin với người có số điện thoại trên để mua 04 hộp pháo nổ với số tiền 200.000 đồng. Khoảng 19 giờ cùng ngày H điều khiển xe máy Yamaha, Exciter chở Đ đi đến ngã tư trong thành phố Hải Dương (Đ không biết địa chỉ cụ thể) gặp và mua 02 túi nilon, bên trong mỗi túi nilon có 02 hộp bìa bên ngoài bọc giấy màu đỏ, có chứa pháo nổ của một người đàn ông không quen biết với giá 200.000 đồng. Đ lấy 100.000 đồng của Đ đưa cho người bán pháo và nợ lại 100.000 đồng, hẹn bán được pháo sẽ trả nốt. Sau đó Đ cầm 02 túi nilon pháo nổ, ngồi lên xe để H chở đến chỗ bán pháo nổ. Trên đường đi H đưa số điện thoại 0569.525.... để Đ dùng điện thoại của Đ nhắn tin với nội dung bán số pháo nổ vừa mua được cho người có số điện thoại nêu trên, với giá 4.000.000 đồng. Người mua đề nghị bớt 100.000 đồng, và hẹn giao pháo nổ ở chỗ cũ (do người này đã từng mua pháo nổ của H), Đ và H đồng ý. H chở Đ đến đoạn đường bê tông thuộc thôn B, xã Đ Sơn, huyện Tứ Kỳ thì Đ xuống xe chờ H đi mua bật lửa. Trong lúc Đ đang đứng chờ H thì bị tổ công tác thuộc Công an huyện Tứ Kỳ kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trên tay Đ đang cầm 02 túi nilon, cụ thể: 01 túi nilon có chứa 01 hộp bìa có kích thước (21x17,5x10,5) cm bên trong có 16 vật hình trụ kích thước khác nhau và 01 hộp bìa có kích thước (21,5x18x11)cm có 18 vật hình trụ kích thước khác nhau; 01 túi nilon có chứa 01 hộp bìa có kích thước (28,5x16x10,5)cm bên trong có 14 vật hình trụ kích thước khác nhau và 01 hộp bìa có kích thước (30x16,5x13)cm bên trong có 10 vật hình trụ kích thước khác nhau cùng 02 vật hình trụ có kích thước giống nhau, tất cả các vật hình trụ đều được quấn bằng giấy vở học sinh, một đầu mỗi vật có gắn dây dẫn màu đỏ trắng; 01 điện thoại Iphone 7 plus, vỏ màu đen, lắp sim số 0984.172.......
Tại bản kết luận giám định số 46 ngày 16/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: 01 túi nilon mầu đỏ, bên trong chứa 58 vật hình trụ tròn, cao 17 cm, đường kính 2,5 cm, bên ngoài cuộn bằng giấy, một đầu có gắn que mầu xám bạc. Tất cả đều là pháo nổ. Khối lượng 4,062kg
- 01 túi mầu đỏ, bên trong túi chứa 28 vật hình trụ tròn, bên ngoài quấn bằng giấy và băng dính mầu đen, hai đầu bịt kín, một đầu có gắn que mầu xám. Tất cả đều là pháo nổ. Khối lượng 1,74kg.
- 08 vật hình trụ, có vỏ ngoài bằng giấy, hai đầu bịt kín, một đầu có gắn que mầu xám, đầu còn lại có các que mầu đỏ. Tất cả đều là pháo nổ. Tổng khối lượng 0,407kg.
- 16 vật hình trụ, có vỏ ngoài bằng giấy, hai đầu bịt kín, đầu có gắn sợi dây mầu bạc. Tất cả đều là pháo nổ. Khối lượng 0,625kg.
- 03 đoạn dây bên ngoài quấn bằng nilon mầu trắng, bên trong là chất bột mầu đen. Chất bột mầu đen là thuốc pháo. Dây dẫn có tác dụng dẫn cháy.
- 05 túi nilon mầu trắng, bên trong túi có các que màu đỏ, bên ngoài phủ chất bột mầu xám. Các vật này là sản phẩm phát tín hiệu ánh sáng.
- 01 túi nilon màu xanh, bên trong chứa chất bột mầu xám đen. Chất bột màu đen là thuốc pháo có khối lượng 0,25kg. 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa chất bột màu xám đen, chất bột này là thuốc pháo có khối lượng 0,242 kg. 04 túi nilon hình chữ nhật màu trắng, bên trong chứa các que màu đỏ, trên thanh que có bám chất bột màu xám. Các vật này là sản phảm phát ra tín hiệu ánh sáng.
Tại bản cáo trạng số 10/CT-VKSTK ngày 26/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ đã truy tố bị cáo Lò Văn Đ về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ Luật hình sự;
Tại phiên tòa: VKSND huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s, i khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS. Tuyên bố bị cáo Lò Văn Đ phạm tội “Buôn bán hàng cấm”, xử phạt bị cáo Lò Văn Đ từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo; áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS); Tịch thu tiêu hủy 01 túi nilon màu trắng, 01 túi nilon màu đen, 03 hộp bìa cát tông; Tịch thu phát mại nộp vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại Iphone 7 Plus vỏ màu đen, miễn án phì hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo Đ, bà Nguyễn Thị Liên xác định VKSND huyện Tứ Kỳ truy tố bị cáo về tội danh là chính xác. Sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bản thân bị cáo là người dân tộc thiểu số có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, hiểu biết pháp luật còn hạn chế, đề nghị HĐXX xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s, i khoản 1 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo mức án khởi điểm 12 tháng tù để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội, miễn án phì hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Bị cáo Đ nhất trí với bài bào chữa và không bổ sung gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan, người tiến hành tố tụng cơ bản là hợp pháp.
- Lời khai của bị cáo tại phiên tòa cơ bản phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản vụ việc, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, HĐXX có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 19 giờ 35 phút, ngày 27/10/2024, tại trục đường thôn B, xã Đ Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương, Lò Văn Đ có hành vi tàng trữ 60 vật hình trụ tròn kích thước khác nhau, vật lớn nhất cao 17,3cm, đường kính 4,4cm, vật nhỏ nhất cao 13cm, đường kính 2,8m, quấn bằng giấy nhiều lớp, lớp ngoài cùng quấn bằng giấy màu đỏ, hai đầu mỗi vật được bịt kín, một đầu có gắn dây dẫn màu đỏ trắng là pháo nổ với tổng khối lượng 7,132kg mục đích bán kiếm lời thì bị bắt quả tang, thu giữ cùng vật chứng. Bị cáo là đều người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc buôn bán trái phép pháo nổ là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các loại hàng hóa cấm kinh doanh, cấm lưu hành, chưa được phép sử dụng dưới bất kỳ hình thức nào nhưng vẫn cố ý thực hiện. Tổng số pháo mà bị cáo buôn bán là 7,132kg đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 BLHS. Vì vậy, VKSND huyện Tứ Kỳ đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
- Xét tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, điều kiện nhân thân của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 BLHS. Xét thấy bị cáo là người dân tộc hiểu biết và nhận thức pháp luật còn hạn chế, chưa có tiền án tiền sự, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thể hiện tính khoan hồng của pháp luật. Tuy nhiên bị cáo thực hiện hành vi phạm trong thời điểm Đảng, nhà nước ta đang tăng cường quản lý các chất cháy nổ, vì vậy dù có giảm nhẹ vẫn cần thiết buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để chấp hành hình phạt tù để giáo dục riêng bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung trong xã hội.
- Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc điện thoại Iphone 7 plus vỏ màu đen là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu phát mại nộp vào ngân sách nhà nước; đối với 01 túi nilon màu trắng, 01 túi nilon màu đen, 03 hộp bìa là vật không còn giá trị nên cần tịch thu cho tiêu hủy. Đối với số pháo nổ, thuốc pháo và các đoạn dây dẫn hoàn lại sau giám định, Cơ quan CSĐT Công an huyện Tứ Kỳ đã tiêu huỷ theo quy định, đối với 01 sim điện thoại số 0984.172.... bị cáo sử dụng liên lạc mua bán pháo do bị cáo mượn của ông Lò Văn Phúc (bố đẻ bị cáo), do ông Phúc không biết bị cáo sử dụng sim vào mục đích phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ đã trả lại cho ông Phúc nên HĐXX không phải giải quyết.
- Đối với Đối với nam thanh niên tên H rủ Đ và cùng Đ đi mua và bán pháo nổ, quá trình điều tra không làm rõ được tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý. Đối với chị Bùi Thị Xuyến là ngưởi đứng tên đăng ký chủ thuê bao số 0569.527....; anh Lương Văn Phong là người đứng tên đăng ký chủ thuê bao số 0562.014.... và Lù A Thắng là người đứng tên đăng ký chủ thuê bao số 0569.525..... Quá trình điều tra xác định, chị Xuyến, anh Phong và anh Thắng không sử dụng các số điện thoại trên, nên không có căn cứ xử lý.
- Về án phí : Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên bị cáo Đ là người dân tộc thiểu số có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về...án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s, i khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 38 của BLHS;
- Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn Đ phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Xử phạt bị cáo Lò Văn Đ 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 27/10/2024 - Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu phát mại nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Iphone 7 plus vỏ màu đen, điện thoại đã cũ, màn hình bị vỡ, có số IMEI: 355375089814286, không kiểm tra tình trạng máy. Tịch thu tiêu hủy 01 túi nilon màu trắng, 01 túi nilon màu đen, 01hộp bìa kích thước (30x16,5x13)cm, 01 hộp bìa kích thước (21x17,5x10,5)cm, 01 hộp bìa kích thước (28,5x16x10,5)cm, 01 hộp bìa kích thước (21,5x18x11)cm.
(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11/02/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về ...án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn Đ
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 BLTTHS, Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Quân |
Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự sơ thẩm (buôn bán hàng cấm)
- Số bản án: 15/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Buôn bán hàng cấm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 19 giờ 35 phút, ngày 27/10/2024, tại trục đường thôn B, xã Đ Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương, Lò Văn Đ có hành vi tàng trữ tổng số 7,132kg pháo nổ đang chuẩn bị bán thì bị kiểm tra bắt giữ
