Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUÂN DƯƠNG KINH

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HS-ST

Ngày 17-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN DƯƠNG KINH, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Dung

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Ngô Văn Thành

Bà Tạ Thị Hương

- Thư ký phiên toà: Bà Đồng Thị Ngọc Anh – Thư ký Toà án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Bùi Đình Lành – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 02/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 68/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 107/HSST-TB ngày 03 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Đức V, sinh ngày 06 tháng 10 năm 1982 tại Hải Phòng; nơi thường trú: Thôn P, xã H, huyện V, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Số B Khúc T, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đa V1 và bà Trần Thị C; có vợ là chị Phạm Thị L (đã ly hôn) và có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: 01 tiền án. Bản án số 01/2020/HSST ngày 15-01-2020 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/01/2021, chưa bồi thường cho bị hại (chưa được xóa án tích); bị cáo bị tạm giữ ngày 01-10-2024 đến ngày 09-10-2024 chuyển tạm giam; có mặt.

- Bị hại: Chị Bùi Thị H, sinh năm 1986; nơi cư trú: Số B V, phường P, quận K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người làm chứng:

  • + Anh Nguyễn Đức H1; vắng mặt.
  • + Chị Nguyễn Thị B; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ sáng ngày 27-9-2024, Nguyễn Đức V đi xe đạp, mang theo vam phá khóa từ phòng trọ tại số B Khúc T, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng đến khu đô thị M thuộc tổ dân phố T, phường A, quận D, thành phố Hải Phòng để trộm cắp tài sản. Khi V đi đến trước cửa nhà ở lô G khu đô thị M thì bị cáo nhìn thấy một chiếc xe mô tô màu trắng biển kiểm soát 15B3 - 125.20 của chị Bùi Thị H đang dựng trước cửa nhà không có người trông coi. Vịnh để xe đạp ở vỉa hè cách vị trí xe mô tô khoảng 10 mét rồi đi bộ đến dắt chiếc xe mô tô biển kiểm soát 15B3 - 125.20 đến nơi để xe đạp rồi dùng vam phá khóa, phá ổ khóa xe mô tô 15B3 - 125.20. Khi mở được ổ khóa xe mô tô Vịnh điều khiển xe mô tô vừa trộm cắp chở theo xe đạp đi về phòng trọ của mình lấy một biển kiểm soát 15AA-07859 được Vịnh nhặt trước đó tại bãi phế liệu rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15B3 - 125.20 mang theo biển 15AA-07859 đến nhà Nguyễn Đức H1 ở số A P, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng. Tại đây Vịnh tháo biển kiểm soát 15B3 - 125.20 và thay bằng biển kiểm soát 15AA-07859, tháo định vị gắn trên xe mô tô vứt ra ngoài, sau đó V gửi lại xe mô tô ở nhà H1 rồi mượn xe đạp đi về phòng trọ. Đến khoảng 05 giờ sáng cùng ngày V nhờ Nguyễn Thị B ở cùng phòng với V chở đến nhà H1 lấy xe mô tô đã trộm cắp về. Đến ngày 01-10-2024 V đến Công an quận D đầu thú và giao nộp chiếc xe mô tô đã trộm cắp. Tại Cơ quan điều tra V còn khai ngoài lần phạm tội này trong thời gian khoảng tháng 8 đến tháng 9 năm 2024, V còn bốn lần trộm cắp xe mô tô trên địa bàn các quận D, quận L và quận K. Các tài sản trộm cắp được V đều bán cho những người không quen biết để lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Đức H2 tại số A P, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng, Cơ quan điều tra thu giữ 01 biển kiểm soát xe mô tô 15B3 - 125.20.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 18/KL-HĐĐGTS ngày 03-10-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận D kết luận: Xe mô tô biển kiểm soát 15B3 - 153.20 có giá 10.000.000 đồng.

Về vật chứng: 01 xe mô tô biển kiểm soát 15B3 - 125.20 qua xác minh là tài sản hợp pháp của chị Bùi Thị H nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận D đã trả lại xe mô tô trên cho chị H; 01 biển kiểm soát số 15AA-07859, quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau; 01 vam phá khóa sau khi trộm cắp được xe mô tô biển kiểm soát 15B3 - 125.20 trên đường đi về Vịnh đã vứt lại ở vỉa hè, định vị gắn trên xe mô tô bị cáo đã vứt đi, chiếc xe đạp trên đường đi về nhà bị vướng nên bị cáo đã để lại ở bãi đất trống, Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Bùi Thị H đã nhận lại tài sản bị mất, nên không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm, không yêu cầu bồi thường chiếc định vị gắn trên xe mô tô và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đối với hành vi trộm cắp tài sản của Nguyễn Đức V trong khoảng thời gian từ tháng 8 đến tháng 9 năm 2024 trên các địa bàn quận D, quận L và quận K, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công quân Dương Kinh đã thông báo truy tìm bị hại, truy tìm vật chứng nhưng đến nay chưa tìm được bị hại trong các vụ trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận D tách ra tiếp tục điều tra xử lý sau.

Đối với Nguyễn Đức H1, Nguyễn Thị Ba K tham gia cùng V, không hứa hẹn trước và không biết chiếc xe mô tô biển kiểm soát 15B3 - 125.20 là tài sản do Nguyễn Đức V phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý.

Tại Cáo trạng số 06/CT-VKSDK ngày 14-01-2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh truy tố bị cáo Nguyễn Đức V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung cáo trạng, bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn trình bày đã nhận lại tài sản bị mất, không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm, không yêu cầu bồi thường chiếc định vị gắn trên xe mô tô và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức V phạm tội “ Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức V với mức án từ 21 đến 24 tháng tù, không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô biển kiểm soát 15B3 - 125.20 là tài sản hợp pháp của bị hại nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận D đã trả lại xe mô tô trên cho bị hại;

01 biển kiểm soát số 15AA-07859, quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau; 01 vam phá khóa trên đường đi về V đã vứt lại ở vỉa hè, định vị gắn trên xe mô tô bị cáo đã vứt đi, chiếc xe đạp trên đường đi về nhà bị vướng nên bị cáo đã để lại ở bãi đất trống, Cơ quan điều tra không thu giữ được nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận D, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu; phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ, Kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã đủ cơ sở kết luận: Khoảng 02 giờ sáng ngày 27-9-2024 tại khu đô thị M thuộc tổ dân phố T, phường A, quận D, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Đức V có hành vi hành vi lén lút trộm cắp chiếc xe mô tô của chị Bùi Thị H với trị giá 10.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã thỏa mãn cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo có bố đẻ tham gia kháng chiến được Nhà nước tặng thưởng Huy chương nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về tính chất vụ án và hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân là khách thể trực tiếp được pháp luật hình sự bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an xã hội, tác động tiêu cực đến hoạt động thường ngày của xã hội, gây ra tâm lý bất an cho người dân. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của các bị cáo. Căn cứ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo đã có 01 tiền án cùng về hành vi chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng rèn luyện bản thân lại tiếp tục có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm khắc, áp dụng hình phạt tù, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian và trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa mới đủ tác dụng cải tạo các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người không có thu nhập ổn định và không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử xét không xem xét giải quyết.

[8] Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong tại giai đoạn điều tra nên Hội đồng xét xử không phải xem xét giải quyết.

[9] Đối với hành vi trộm cắp tài sản của Nguyễn Đức V trong khoảng thời gian từ tháng 8 đến tháng 9 năm 2024 trên các địa bàn quận D, quận L và quận K, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công quân Dương Kinh đã thông báo truy tìm bị hại, truy tìm vật chứng nhưng đến nay chưa tìm được bị hại trong các vụ trên nên tách ra tiếp tục điều tra xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[10] Đối với Nguyễn Đức H1, Nguyễn Thị Ba K tham gia cùng Vịnh, không hứa hẹn trước và không biết chiếc xe mô tô biển kiểm soát 15B3 - 125.20 là tài sản do Nguyễn Đức V phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[11] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Phạt bị cáo Nguyễn Đức V 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày 01 tháng 10 năm 2024.

- Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp, miễn giảm, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Dương Kinh;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - Cơ quan điều tra CA TP. Hải Phòng;
  • - PV06; PC 10;
  • - Chi cục THADS quận Dương Kinh;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng khác;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú,
  • - Cơ quan THAHS có thẩm quyền
  • - TAND TP Hải Phòng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 17/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN DƯƠNG KINH, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 15/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN DƯƠNG KINH, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức V - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger