|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 15/2025/HNGĐ-ST Ngày: 17/3/2025 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chau Dau.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Hồ Văn Dũng.
- Bà Châu Thanh Nguyên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thúy Duy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên toà:
Bà Trầm Ngọc Minh Thư – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 54/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1986; địa chỉ: Tổ A, khóm A, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1976; địa chỉ: Tổ A, khóm A, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang, có đơn đề nghị xin xét xử vắng mặt.
Hiện tại đang chấp hành án tại Phân trại tạm giam khu vực huyện T, tỉnh An Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 10/02/2025 và quá trình tố tụng nguyên đơn Huỳnh Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Văn T tự tìm hiểu trước thời gian và tự nguyện đi đến xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang vào năm 2009. Quá trình chung sống thời gian đầu rất hạnh phúc nhưng thời gian sau này vợ chồng luôn xảy ra mâu thuẫn như: Thường xuyên cự cãi, ông T thường nhậu nhẹt, say sỉn, đập phá đồ đạc trong nhà, dùng lời lẽ xúc phạm bà H và thậm chí ông T còn có hành vi bạo lực đối với bà H1. Mặc dù, bà H1 và ông T đã nhiều lần cố gắng hàn gắn tình cảm, tự hoà giải mâu thuẫn nhưng không thành. Trước khi ông T bị bắt thì vợ chồng vẫn đang chung sống với nhau nhưng mâu thuẫn vẫn trầm trọng, ông T bảo ly hôn. Nay bà H1 nhận thấy bà H1 và ông T không thể hàn gắn tình cảm, hôn nhân không hạnh phúc nên bà H1 yêu cầu ly hôn đối với ông T.
Về quan hệ con chung: Trong thời kỳ hôn nhân giữa bà H1 và ông T có hai con chung gồm: Nguyễn Thị H2, sinh ngày 24/9/2009 và Nguyễn Văn T1, sinh ngày 11/02/2013, hiện các con đang sống với bà H1. Khi ly hôn bà H1 yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về hệ tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Văn T trình bày tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 25/02/2025.
Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn T thống nhất về thời gian và điều kiện đi đến xác lập quan hệ hôn nhân giữa ông T với bà H1, cũng như nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn. Nay bà H1 yêu cầu ly hôn với ông T, ông T đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà H1.
Về quan hệ con chung: Ông T thống nhất trong thời kỳ hôn nhân giữa ông T và bà H1 có 02 con chung gồm: Nguyễn Thị H2, sinh ngày 24/9/2009 và Nguyễn Văn T1, sinh ngày 11/02/2013, hiện các con đang sống với bà H1. Khi ly hôn bà H1 yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, ông T không tranh chấp về việc nuôi con do các con cũng đã lớn và các con có nguyện vọng sống với cha hay mẹ là do các con quyết định.
Về quan hệ tài sản chung: Theo bà H1 trình bày trong đơn khởi kiện không có tài sản chung là không đúng sự thật. Trong quá trình chung sống giữa ông T và bà H1 có tạo lập được một căn nhà gắn liền với đất (Nhà được nhà hỗ trợ xây cất). Ông T yêu cầu bà H1 giao căn nhà nêu trên cho ông T, để sau khi ông T chấp hành án xong có chỗ để ở. Nếu bà H1 đồng ý thì ông đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà H1. Đây là đề nghị của ông đối với bà H1, ông T không có yêu cầu phản tố.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại phiên toà,
Nguyên đơn, bị đơn đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
* Quan điểm của Kiểm sát viên:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án đúng theo trình tự, thủ tục, xác định đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền xét xử. Trong quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán cũng như Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự trong vụ án đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung: Về quan hệ hôn nhân đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Huỳnh Thị H đối với ông Nguyễn Văn T; về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Thị H2, sinh ngày 24/9/2009 và Nguyễn Văn T1, sinh ngày 11/02/2013 cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng, không cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án và quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Văn T, tranh chấp giữa các đương sự về ly hôn, nuôi con; bị đơn có địa chỉ cư trú tại địa bàn huyện T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Về sự vắng của các đương sự: Nguyên đơn và bị đơn đều có đơn đề nghị xin xét xử vắng mặt họ nên Toà án căn cứ vào Điều 228 vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung vụ án: Bà H và ông T tự nguyện đi đến xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số: 10, ngày 17/6/2009 là phù hợp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông T là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật bảo vệ.
Xét yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà H đối với ông T và nguyên nhân bà H trình bày tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết ông T thừa nhận mâu thuẫn vợ chồng như bà H trình bày và ông T đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà H. Hội đồng xét xử thấy, mâu thuẫn giữa bà H và ông T trong hôn nhân rất trầm trọng và không thể hàn gắn lại tình cảm vợ chồng, cuộc sống hôn nhân thường xảy ra mâu thuẫn và kéo dài, không mang lại hạnh phúc cho nhau, hơn nữa ông T còn có hành vi bạo lực đối với bà H nên bà H yêu cầu ly hôn đối với ông Nguyễn Văn T có cơ chấp nhận.
[3] Về quan hệ con chung: Bà H, ông T thống trong thời kỳ hôn nhân giữa ông bà có 02 con chung gồm: Nguyễn Thị H2, sinh ngày 24/9/2009 và Nguyễn Văn T1, sinh ngày 11/02/2013, hiện các con đang sống với bà H. Khi ly hôn bà H yêu cầu tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, ông T không tranh chấp về việc nuôi con. Xét thấy, hiện các cháu đều đang được bà H nuôi dưỡng và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho các cháu trong khả năng có thể và cũng phù hợp với nguyện vọng của các cháu. Từ đó, cho thấy yêu cầu của bà H là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp yêu cầu của bà H giao các cháu cho bà tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.
[4] Về cấp dưỡng: Bà H không yêu cầu nên không xem xét.
[5] Về tài sản chung: Ông T đề nghị bà H giáo căn nhà cho ông T để có nơi ở sau khi chấp hành án xong. Xét thấy, đây chỉ là lời trình bày ý kiến của ông T và ông T đã xác định ông không có yêu cầu phản tố nên Toà án không có cơ sở xem xét.
[7] Về nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
[8] Về án phí: Bà H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 9, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Huỳnh Thị H.
Bà Huỳnh Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.
-
Về quan hệ con chung: Giao 02 con chung gồm: Nguyễn Thị H2, sinh ngày 24/9/2009 và Nguyễn Văn T1, sinh ngày 11/02/2013 cho bà Huỳnh Thị H trực tiếp nuôi dưỡng.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về án phí: Bà Huỳnh Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000đ ( ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0013047 ngày 18 tháng 02 năm 2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Chau Dau |
Bản án số 15/2025/HNGĐ-ST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 15/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Hằng yêu cầu ly hôn đối với ông Toản
