|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 15/2025/HS-ST
Ngày 14 - 3 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ái Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hồ Xuân Dũng
- Bà Trương Thị Hiệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Nguyệt Hồng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Võ Minh Thoại - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 73/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2652/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Anh Q, sinh ngày 10/8/1996 tại Q, Bình Định; Nơi cư trú: Tổ D, khu V, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định; Số căn cước công dân: [...]; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 9/12 ; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn C, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1975; có vợ là Đỗ Thị H, sinh năm 1996; Con: 01 người, sinh năm 2016; tiền án: ngày 16/7/2015 bị Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt 03 tháng 20 ngày tù về tội "Trộm cắp tài sản" theo Bản án số 61/2015/HSST (chưa nộp án phí, chưa được xóa án tích); Tiền sự: không; Nhân thân: ngày 21/8/2014 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xử phạt 03 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" theo Bản án số 180/2014/HSPT (Thời điểm phạm tội chưa đủ 18 tuổi, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, được xem là không có án tích); ngày 29/11/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định xử phạt 30 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" theo Bản án số 42/2017/HSST (đã chấp hành xong Bản án); Ngày 05/12/2022 bị Chủ tịch UBND phường N, thành phố Q xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi "Trộm cắp tài sản" (đã nộp phạt xong); Ngày 31/5/2024, bị Công an phường T, thành phố Q xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy" (đã nộp phạt xong). Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/9/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt.
- Họ và tên: Nguyễn Văn C1, sinh ngày 10/9/1996 tại Q, Bình Định; Nơi cư trú: số A, đường T, phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định; Số căn cước công dân: [...]; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1965; vợ: Siu A, sinh năm 2002; con: 02 người, đều sinh năm 2021; tiền án: ngày 06/4/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội "Cướp giật tài sản" theo Bản án số 27/2023/HSST (Ngày 26/12/2023 chấp hành xong án phạt tù). Tiền sự: Không. Nhân thân: ngày 20/02/2011 bị Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn xử phạt 12 tháng tù về tội "Cướp giật tài sản" theo Bản án số 18/2011/HSST (đã chấp hành xong Bản án); ngày 15/01/2016 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xử phạt 09 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" theo Bản án số 06/2016/HSPT (đã chấp hành xong Bản án); Ngày 13/11/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định xử phạt 15 tháng tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo Bản án số 78/2024/HS-ST (bị cáo đang chấp hành án). Bị cáo vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị hại:
- 1. Chị Hồ Thị N, sinh năm 1976; Địa chỉ: số I, đường H, phường B, thị xã A, tỉnh Bình Định, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- 2. Anh Bùi Bá H2, sinh năm 1992; Địa chỉ: số H, đường V, phường B, thị xã A, tỉnh Bình Định, vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 1. Anh Đinh Lê L1, sinh năm 1988; Địa chỉ: thôn N, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định, vắng mặt.
- 2. Ông Trần Văn N1, sinh năm 1968; Địa chỉ: Tổ I, khu V, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định, vắng mặt.
- 3. Anh Nguyễn Tuấn H3, sinh năm 1993; Địa chỉ: thôn P, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yên, vắng mặt.
- Người làm chứng:
- 1. Anh Lê Phong P, sinh năm 1994; Địa chỉ: khu A, thị trấn N, huyện P, tỉnh Bình Định, vắng mặt.
- 2. Anh Trịnh Văn S, sinh năm 1995; Địa chỉ: Tổ D, khu V, phường B, thành phố Q, tỉnh Bình Định, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Các bị cáo Nguyễn Anh Q và Nguyễn Văn C1 không có nghề nghiệp. Để có tiền tiêu xài, Nguyễn Anh Q và Nguyễn Văn C1 nảy sinh ý định dạo tìm nhà người dân có sơ hở trong quản lý thì đột nhập trộm cắp tài sản, chủ yếu là xe mô tô. Từ ngày 01/9/2024 đến ngày 09/9/2024, Nguyễn Anh Q, Nguyễn Văn C1 02 lần đến thị xã A trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 23 giờ ngày 31/8/2024, Q điều khiển xe mô tô loại Exciter 79C1-058.07 (xe mượn của ông Trần Văn N1) chở C1 đi dạo chơi. Trên đường đi, C1 rủ Q đi lấy trộm xe mô tô bán lấy tiền tiêu xài. Q đồng ý. Để tránh sự phát hiện, Q và C1 lấy 02 áo công nhân điện lực đang phơi trước nhà dân (không rõ địa điểm) mặc vào rồi đi dạo tìm tài sản. Đến khoảng 05 giờ 30 phút ngày 01/9/2024, khi đi ngang nhà chị Hồ Thị N thì thấy xe mô tô loại Vision, màu xám, biển kiểm soát 77F1-252.70 (bên trong cốp xe có 01 số giấy tờ tùy thân của chị N) đang dựng trước cổng ngõ, không có người trông coi, trên xe có gắn chìa khóa. Bị cáo Q liền dừng xe lại, đi bộ đến lén lấy xe mô tô 77F1-252.70 khởi động chạy đi. Còn bị cáo C1 điều khiến xe mô tô biển kiểm soát 79C1-058.07 cùng tẩu thoát. Trên đường đi, bị cáo Q dùng tay bẻ phần ốp nhựa phía trước của xe mô tô 77F1-252.70 vứt bỏ và tháo biển số xe cất giấu. Sau đó, bị cáo C1 lấy xe mô tô 77F1-252.70 để sử dụng và đưa cho Q số tiền 1.500.000 đồng (thực nhận 500.000 đồng). C1 sơn lại vỏ thân xe 77F1-252.70 thành màu trắng, gắn biển số giả 77G1-487.13 để đi lại. Đến ngày 13/9/2024, C1 lên mạng xã hội facebook thỏa thuận với anh Lê Phong P đổi xe mô tô 77F1-252.70 lấy xe mô tô hiệu Vario, biển kiểm soát 66C1-554.81 của anh P. Khoảng 13 giờ cùng ngày, khi C1 đến tiệm sửa xe "Dương Nhân" thuộc xã C, huyện P gặp anh P trao đổi thì bị Công an huyện P phát hiện đưa về làm việc.
Vụ thứ hai: Khoảng 23 giờ ngày 08/9/2024, C1 tiếp tục rủ Q đi trộm cắp tài sản. Q đồng ý và điều khiển xe mô tô loại Exciter biển kiểm soát 79C1-058.07 chở C1 đến thị xã A để lấy trộm xe mô tô. Khoảng 02 giờ ngày 09/9/2024, khi đi ngang số nhà H V, phường B thấy xe mô tô loại Exciter 150 màu vàng, không gắn biển số của anh Bùi Bá H2, sinh năm 1992 (xe mượn của anh Đinh Lê L1) đang dựng trong sân nhà, trên xe gắn sẵn chìa khóa. Q liền dừng xe lại, lén lút đột nhập vào bên trong sân dắt lấy xe mô tô trên, khởi động chạy đi, còn C1 điều khiển xe Exciter của Q cùng nhau tẩu thoát. Sau đó, C1 thỏa thuận đưa cho Q 2.000.000 đồng và lấy xe mô tô hiệu Exciter vừa trộm được để sử dụng. Đến sáng ngày 10/9/2024, Quốc thay vỏ thân xe màu vàng thành màu xanh-đen rồi đem đến nhà anh Trịnh Văn S để cầm cố. Do không có cà vẹt xe và biển số xe, nên anh S không đồng ý cầm cố và cho C1 gửi xe lại.
Ngày 18/9/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã A kết luận: Xe mô tô hiệu Honda Vision, màu sơn: xám, biển kiểm soát 77F1- 252.70, số khung: 00EY-004773, số máy: 58E-0004850 có giá trị tại thời điểm thiệt hại là 12.000.000 đồng; Xe mô tô hiệu Yamaha, loại xe Exciter, dung tích xi lanh: 150cc, màu sơn: vàng-đen, số khung: 0610HY434904, số máy: G3D4E455419 có giá trị tại thời điểm thiệt hại là 13.000.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 79/CT-VKSAN ngày 27 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn truy tố các bị cáo Nguyễn Anh Q, Nguyễn Văn C1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Anh Q, Nguyễn Văn C1 phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Về trách nhiệm hình sự:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Anh Q từ 02(hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù;
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38; Điều 56 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C1 từ 02(hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại Bản án số 78/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Buộc bị cáo Nguyễn Văn C1 phải chấp hành hình phạt chung của hai Bản án.
- Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì khác nên miễn xét. Bị cáo Nguyễn Văn C1 không yêu cầu bị cáo Nguyễn Anh Q phải hoàn trả số tiền 2.500.000đ, nên miễn xét.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tuyên:
- + Tịch thu, tiêu hủy 01 biển số xe 77G1-487.13 (biển số giả).
- + Lưu hồ sơ 01 thẻ nhớ dung lượng 125MB bên trong lưu trữ 04 đoạn video ghi lại nội dung sự việc vào ngày 01/9/2024 và ngày 09/9/2024.
- + Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe: Exciter, màu sơn: xanh-trắng, mang biển kiểm soát: 79C1-058.07, số khung: RLCE55P10CY105022, số máy: 55P1-105031. Nếu ông Trần Văn N1 có tranh chấp về quyền sở hữu hoặc yêu cầu bồi thường giá trị đối với xe mô tô BKS 79C1-058.07 thì được quyền khởi kiện vụ án dân sự.
Bị cáo Nguyễn Anh Q thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội bản cáo trạng đã truy tố, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn C1; người bị hại chị Hồ Thị N và anh Bùi Bá H2; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đinh Lê L1, ông Trần Văn N1 và anh Nguyễn Tuấn H3; người làm chứng anh Lê Phong P và anh Trịnh Văn S vắng mặt. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra họ đã cung cấp lời khai. Xét, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc tìm ra sự thật khách quan của vụ án. Căn cứ vào các Điều 290, 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Anh Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; phù hợp với lời khai của bị cáo Nguyễn Văn C1, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định: Do cần tiền để tiêu xài, trong 02 ngày 01/9/2024 và 09/9/2024, các bị cáo Nguyễn Anh Q và Nguyễn Văn C1 lợi dụng sự sơ hở của người dân trên địa bàn phường B, thị xã A đã lén lút chiếm đoạt xe mô tô hiệu honda, loại Vision biển kiểm soát 77F1-252.70 của bà Hồ Thị N, trị giá 12.000.000đ và xe mô tô loại Exciter màu vàng không gắn biển kiểm soát của anh Bùi Bá H2, trị giá 13.000.000đ. Tổng trị giá tài sản các bị cáo chiếm đoạt của các bị hại là 25.000.000đồng nên hành vi của các bị cáo Nguyễn Anh Q, Nguyễn Văn C1 đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
[4] Các bị cáo là những thanh niên có đầy đủ sức khỏe và năng lực điều khiển hành vi, ý thức được tài sản hợp pháp của người khác luôn được Nhà nước quan tâm bảo vệ và nghiêm trị những ai có hành vi xâm hại trái pháp luật. Nhưng vì tham lam, muốn nhanh chóng có tiền để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu, các bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở, thiếu cảnh giác trong quản lý tài sản của người bị hại mà lén lút chiếm đoạt. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, nên cần xử phạt các bị cáo một hình phạt tương xứng tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi các bị cáo gây ra.
[5] Xét về vai trò của các bị cáo: Vụ án có 02 bị cáo tham gia, nhưng không có sự phân công nhiệm vụ, không có sự cấu kết chặt chẽ nên chỉ là đồng phạm giản đơn. Trong đó, bị cáo Nguyễn Văn C1 là người khởi xướng, rủ rê. Bị cáo Nguyễn Anh Q là người thực hành.
[6] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[6.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Anh Q và Nguyễn Văn C1 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, giá trị tài sản mỗi lần trộm cắp đều trên 2.000.000đồng nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 2 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[6.2] Tại Bản án số 61/2015/HS.ST ngày 16/7/2015 của Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt bị cáo Nguyễn Anh Q 03 (ba) tháng 20 (hai mươi) ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản” và phải nộp khoản thu lợi bất chính, án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Anh Q đã chấp hành xong hình phạt chính nhưng chưa thi hành các khoản thu nộp ngân sách nhà nước. Căn cứ vào Điều 70 (Đương nhiên được xóa án tích) của Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại mục 7, phần I của Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân Tối cao về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc về hình sự, dân sự và tố tụng hành chính thì bị cáo Nguyễn Anh Q chưa được đương nhiên xóa án tích.
[6.3] Tại Bản án số 27/2023/HS.ST ngày 06/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C1 01(một) năm 03 (ba) tháng tù về tội: “Cướp giật tài sản”. Ngày 26/12/2023, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt chính, chưa được đương nhiên xóa án tích.
[6.4] Các bị cáo Nguyễn Anh Q và Nguyễn Văn C1 chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[6.5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội được quy định tại s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[7] Các bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử về hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản nhưng không chịu tu dưỡng rèn luyện nên cần xử lý cách ly các bị cáo ra ngoài cuộc sống bình thường một thời gian mới đủ răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu gì khác nên miễn xét. Bị cáo Nguyễn Văn C1 không yêu cầu bị cáo Nguyễn Anh Q phải hoàn trả số tiền 2.500.000đồng nên miễn xét.
[9] Về xử lý vật chứng:
- + Biển số xe 77G1-487.13 (biển số giả) là công cụ các bị cáo dùng để che giấu tội phạm, không có giá trị sử dụng nên áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu, tiêu hủy.
- + 01 thẻ nhớ dung lượng 125MB bên trong lưu trữ 04 đoạn video ghi lại nội dung sự việc vào ngày 01/9/2024 và ngày 09/9/2024 là chứng cứ của vụ án nên lưu vào hồ sơ vụ án.
- + Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe: Exciter, màu sơn: xanh-trắng, gắn biển số: 79C1-058.07, số khung: RLCE55P10CY105022, số máy: 55P1-105031, Xe mô tô này là tài sản của anh Nguyễn Tuấn H3 bị mất trộm vào năm 2017. Vụ án đã được đưa ra xét xử và anh Nguyễn Tuấn H3 đã được tính bồi thường giá trị xe theo Bản án hình sự sơ thẩm số: 55/2018/HS.ST ngày 27/11/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định: “Bị hại Nguyễn Tuấn H3 yêu cầu bồi thường 25.000.000đồng. Buộc bị cáo Lê Phú C2 phải bồi thường 10.000.000đồng, Lê Phú T, Nguyễn Văn S1 mỗi bị cáo phải bồi thường 7.500.000đồng”. Bản án đang có hiệu lực thi hành. Đối với ông Trần Văn N1, khi giao dịch mua bán mô tô gắn biển số 79C1-058.07, ông biết xe mô tô không có giấy tờ chứng minh quyền sở hữu nhưng vẫn đồng ý mua. Trong vụ án này, xe mô tô biển kiểm soát 79C1-058.07 là phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Do đó, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2, khoản 4 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước. Trường hợp ông Trần Văn N1 có tranh chấp về quyền sở hữu đối với xe mô tô BKS 79C1-058.07 thì giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
[10] Anh Lê Phong P đã có hành vi thỏa thuận, trao đổi với bị cáo Nguyễn Văn C1 để lấy xe mô tô hiệu Vision, biển kiểm soát 77F1- 252.70. Tuy nhiên, anh P không biết xe mô tô trên là tài sản do trộm cắp mà có nên không xử lý anh Lê Phong P về tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có".
[11] Anh Trịnh Văn S là người được bị cáo Nguyễn Văn C1 liên hệ nhờ cầm cố xe mô tô hiệu Exciter. Tuy nhiên, anh S không biết xe mô tô là tài sản do trộm cắp mà có, không đồng ý cầm cố mà chỉ cho C1 gửi nhờ xe tại nhà nên không có căn cứ xử lý anh Trịnh Văn S về tội "Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có".
[12] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các bị cáo Nguyễn Anh Q, Nguyễn Văn C1 phải chịu mỗi bị cáo 200.000₫.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Anh Q;
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn C1;
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và các Điều 106, 135, 136, 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Anh Q, Nguyễn Văn C1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt:
2.1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh Q 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 16/9/2024.
2.2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 78/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Buộc bị cáo Nguyễn Văn C1 phải chấp hành hình phạt chung của hai Bản án là 03(ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/9/2024.
3. Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu, tiêu hủy 01 biển số xe 77G1-487.13 (biển số giả). (Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã A theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/12/2024)
- - Lưu hồ sơ 01 thẻ nhớ dung lượng 125MB bên trong lưu trữ 04 đoạn video ghi lại nội dung sự việc vào ngày 01/9/2024 và ngày 09/9/2024.
- - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, dung tích xi lanh 135cc, màu sơn: xanh - trắng, gắn biển số: 79C1-058.07, số khung: RLCE55P10CY105022, số máy: 55P1105031 (hiện đang tạm giữ tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh B theo biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 25/9/2024).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Nguyễn Anh Q, Nguyễn Văn C1 phải chịu mỗi bị cáo 200.000đồng.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Anh Q có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Văn C1, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ái Phượng |
Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 15/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Anh Q, Nguyễn Văn C phạm tội "trộm cắp tài sản"
