TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 15/2025/HS-ST Ngày 14-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Nghĩa
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Bé
Ông Võ Hùng Em
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Nhàn, Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Lê Kim Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp (điểm cầu trung tâm) và P trại tạm giam khu vực huyện T, tỉnh Đồng Tháp (điểm cầu thành phần) xét xử phiên tòa trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Phạm Phú P1, sinh năm 1996 tại tỉnh Đồng Tháp. Nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Phú C và bà Trần Thị P2; chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 13/02/2023 bị Công an xã A ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02/QĐ-XPHC về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý số tiền 1.500.000 đồng (chưa nộp phạt); Ngày 20/12/2023 bị Công an huyện T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản số tiền 2.500.000 đồng (chưa nộp phạt); Ngày 26/12/2023 bị Toà án nhân dân huyện Tam Nông ra Quyết định số 12/2023/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 14 tháng, ngày 06/12/2024 chấp hành xong; Nhân thân: Ngày 28/12/2019 bị Toà án nhân dân huyện Tam Nông ra Quyết định số 40/2019/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 12 tháng; tạm giữ: Ngày 07/12/2024; tạm giam: Ngày 10/12/2024. Bị cáo hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực huyện T; có mặt tại điểm cầu thành phần.
Bị hại: Cháu Lê Thị Tường V (Di), sinh ngày 17/3/2011;
Nơi cư trú: Ấp T, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang; Nơi ở hiện tại: Ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- Anh Lê Phước S, sinh năm 1985 (cha ruột);
- Chị Lâm Thị V1, sinh năm 1983 (mẹ ruột);
Cùng cư trú: Ấp T, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang; có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người làm chứng: Bà Trần Thị V2, sinh năm 1956;
Nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 07/12/2024, bị cáo P1 đi bộ một mình từ nhà bà ngoại của bị cáo P1 thuộc ấp P, xã A về hướng ấp A, xã A mục đích đi tìm tài sản để trộm. Khi đi đến nhà bà Trần Thị V2, sinh năm 1956; nơi cư trú: ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, bị cáo P1 đi lại gần cửa sổ quan sát thấy cháu Lê Thị Tường V, sinh ngày 17/3/2011 (cháu nội của bà V2) đang ngủ trong mùng, có để điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A05s màu đen trên đầu nằm, bị cáo P1 đi vòng ra cửa trước (loại cửa kéo Đài Loan, chỉ khép lại không khóa) vào nhà. Bị cáo P1 đứng ngoài mùng, tháo điện thoại ra khỏi dây sạc và cầm trên tay. Lúc này, cháu V thức giấc truy hô và ném thú nhồi bông về phía bị cáo P1, bị cáo P1 cầm điện thoại trên bỏ chạy, tẩu thoát về nhà bà ngoại của bị cáo P1 theo đường cũ. Đến khoảng 05 giờ 30 phút ngày 07/12/2024, cháu V đến Công an xã A trình báo vụ việc. Sau đó, khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày lực lượng Công an mời bị cáo P1 về làm việc. Tại đây P1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và giao nộp điện thoại trộm nêu trên.
Vật chứng thu giữ đã xử lý gồm: Đã thu giữ và trao trả cho chủ sở hữu Lê Thị Tường V 01 cáp sạc điện thoại di động màu trắng nhãn hiệu OPPO và 01 dây sạc màu đen dài 1m, đã qua sử dụng được thu giữ tại hiện trường; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A05s, màu đen, số IMEI 356480/62/548802/2, đã qua sử dụng do bị cáo P1 giao nộp.
Kết luận định giá tài sản số 66/KL-ĐGTS ngày 09/12/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A05s, màu đen, số IMEI 356480/62/548802/2, đã qua sử dụng, giá trị định giá 2.067.000 đồng (làm tròn).
Về dân sự: Do đã nhận lại đúng và đầy đủ tài sản bị mất nên bị hại Lê Thị Tường V và người đại diện hợp pháp của bị hại V không yêu cầu bồi thường.
Tại Cáo trạng số: 16/CT-VKSTN ngày 22 tháng 01 năm 2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông đã truy tố bị cáo Phạm Phú P1 phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng truy tố bị cáo P1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Phạm Phú P1, phạm tội “Trộm cắp tài sản” xử phạt bị cáo mức án từ 09 tháng đến 01 năm tù. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận lại tài sản bị mất trộm nên không yêu cầu bồi thường. Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong.
Bị cáo Phạm Phú P1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội “Trộm cắp tài sản” như nội dung cáo trạng đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên, không tham gia tranh luận với Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai, xin lỗi bị hại và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Giai đoạn điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đều hợp pháp.
- Toà án đã triệu tập hợp lệ bị hại V, người đại diện hợp pháp của bị hại V là anh S, chị V1 vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; người làm chứng Vàng vắng mặt không lý do. Quá trình điều tra, tất cả đương sự, người làm chứng vắng mặt nêu trên đã có lời khai trong hồ sơ vụ án và việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến quá trình xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại các Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản khám nghiệm hiện trường, Sơ đồ hiện trường, Bản ảnh hiện trường; Kết luận định giá tài sản số: 66/KL-ĐGTS, ngày 09/12/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Lời khai bị hại và người làm chứng, cùng toàn bộ chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Do cần tiền tiêu xài cá nhân, khoảng 00 giờ 30 phút ngày 07/12/2024 tại nhà bà Trần Thị V2 thuộc ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, bị cáo P1 lợi dụng sự sơ hở của bị hại V (cháu nội bà V2) khi đang ngủ cửa nhà chỉ khép chứ không khóa, bị cáo P1 lén lút vào nhà trộm điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A05s màu đen để trên đầu nằm của bị hại V, ngay lúc đó bị hại V thức giấc truy hô, bị cáo P1 nhanh chóng tẩu thoát khỏi hiện trường, tài sản bị chiếm đoạt có giá trị là 2.067.000 đồng. Do đó, Cáo trạng số: 16/CT-VKSTN ngày 22/01/2025 truy tố bị cáo P1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
Hành vi phạm tội của bị cáo P1 là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tài sản của người khác một cách trái pháp luật. Bị cáo là người thành niên, đủ năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định, bị cáo nhận thức được trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng bản thân lười lao động, muốn có tiền tiêu xài nhanh chóng mà không cần lao động vất vả, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A05s trị giá 2.067.000 đồng của bị hại V. Ngoài ra, bị cáo có 03 tiền sự về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy, Trộm cắp tài sản, Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” và vừa chấp hành xong việc điều trị nghiện ma túy bắt buộc vào ngày 06/12/2024 thì đến ngày 07/12/2024 lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện việc bị cáo xem thường pháp luật. Do đó phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và có tác dụng phòng ngừa chung cho xã hội.
- Về tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo P1 không nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại V, người đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A05s màu đen. Xét thấy bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong.
- Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông tại phiên tòa là có cơ sở, phù hợp với nhận định nêu trên nên chấp nhận.
- Về án phí: Bị cáo P1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Phạm Phú P1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Phạm Phú P1 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 07/12/2024.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Phạm Phú P1 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Tấn Nghĩa |
Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 15/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Phú P bị xét xử tội "Trộm cắp tài sản"
