Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM BÌNH

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HSST

Ngày: 14/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Linh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Mua

2. Ông Trần Văn Bé Hai

Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Lan

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 127/2024/HSST ngày 26 tháng 12 năm 2024. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Tam Bình, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Thanh H, sinh ngày: 19/9/2008, tại tỉnh Vĩnh Long. Nơi cư trú tại: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long: Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn 6/12; con ông Trần Văn Đ và bà Dương Thanh T; chưa có vợ con; anh chị em ruột có 02 người (lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất là bị cáo).

Tiền án: Không; tiền sự: không

Bị bắt tạm giam từ ngày 22/10/2024, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Nguyễn Thị Thu T1, sinh năm: 1984 (Vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp E, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Trần Văn Đ, sinh năm: 1980.

Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Phạm Thị X, sinh năm: 1988. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số A, N, Khóm A, phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

2. Phạm Nguyễn Vũ L, sinh năm: 2007. (Có mặt)

Địa chỉ: ấp 5, xã Hậu Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long

3. Huỳnh Minh H1, sinh năm: 2002 (Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp E, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

1

Người bào chữa cho bị cáo Trần Thanh H do: Bà Hà Thị H2 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh V. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ ngày 21/10/2024, Trần Thanh H mượn điện thoại của Phạm Nguyễn Vũ L gọi điện thoại cho một người tên N ở Thành phố V (không biết rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) để hỏi mua 400.000đ ma tuý đá. Đến khoảng hơn 15 giờ cùng ngày, H hỏi mượn anh Huỳnh Minh H1 xe môtô biển số 64F9-8330 đi ra đường T, đứng đợi trước cồng trường tiểu học C1 để lấy ma tuý từ một người nam không biết rõ họ tên, địa chỉ. Sau khi mua được ma tuý, H đem bịt ma tuý đá trên về nhà của H để cất giấu. Đến khoảng hơn 18 giờ cùng ngày H lấy ra một ít để sử dụng một mình tại khu vực phía sau nhà của H, số ma tuý còn lại H dùng bật lửa hàn kín lại, để vào bên trong bịt nylon trong suốt loại bóp miệng có viền trắng rồi cất vào bên trong hộp nhựa màu đen và để trên vách tường phía sau nhà của H. Đến khoảng 00 giờ 05 phút ngày 22/10/2024 Trần Thanh H bị cơ quan Công an kiểm tra phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, đồng thời tạm giữ tang vật có liên quan.

Theo kết luận số 691/KL-KTHS ngày 26/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh V kết luận:

Mẫu tinh thể rắn màu trắng trong phong bì (đánh số 1) gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,2657 gam, loại Methamphetamine.

Mẫu chất rắn được niêm phong trong phong bì (đánh số 2) gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,0593 gam, loại Methamphetamine. (Bút lục 75)

Tổng khối lượng 0,325 gam, loại Methamphetamine

Ngày 29/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Vĩnh Long ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và ra Lệnh tạm giam đối với Trần Thanh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra xác định ngoài vụ án nêu trên thì bị cáo H còn thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

Vào khoảng 02 giờ ngày 21/10/2024, Trần Thanh H lấy xe đạp của Phạm Nguyễn Vũ L để tại nhà của H chạy trên đường lộ nhựa để đi ăn trộm gà, khi H chạy đến nhà của chị Nguyễn Thị Thu T1, thì nghe tiếng gà gáy nên H vô nhà để ăn trộm gà. H dựng xe đạp ở ngoài lộ rồi đi bộ vô nhà, nhà không có khoá, H đi vô bên hông nhà thì thấy chị T1 đang ngủ trên giường, H lén lút lấy trộm một điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 6Z 5G màu xanh đang sạc pin trên đầu giường, H thấy có một cái túi da treo trên cửa tủ chén cách giường ngủ khoảng 2 đến 3 mét nên H tiếp tục lấy trộm túi da này. Hoà lụt trong túi da có số tiền 1.800.000đ, sau khi lấy trộm được tài sản thì bỏ lại túi da rồi chạy xe về nhà ngủ. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, H đi xe ôm đến tiệm điện thoại Phúc Khang của bà Phạm Thị X bán điện thoại được 800.000đ.

Đến khoảng 8 giờ 30 phút ngày 21/10/2024, chị T1 phát hiện mất số tiền 4.200.000đ và một điện thoại di động nhãn hiệu oppo Reno 6Z 5G màu xanh nên trình báo Công an xã H.

2

Căn cứ bản kết luận định giá tài sản số 50/KL. ĐGTS, ngày 06/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 6Z 5G màu xanh, có giá trị 2.500.000đ. Tổng giá trị tài sản Trần Thanh H trộm cắp là 4.300.000đ.

Ngày 20/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện T, tỉnh Vĩnh Long ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Trần Thanh H về tội “trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Ngày 05/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện T, tỉnh Vĩnh Long ra quyết định nhập vụ án hình sự để giải quyết theo quy định.

Trong quá trình điều tra bị cáo Trần Thanh H đã thừa nhận hành vi phạm tội.

Đối với Phạm Nguyễn Vũ L, khi bị cáo H hỏi mượn điện thoại để liên lạc mua ma tuý và tự ý lấy xe đạp đi trộm cắp tài sản, thì L không hay biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không đề cặp xử lý là có căn cứ.

Đối với Huỳnh Minh H1, khi bị cáo hỏi mượn xe môtô biển số 64F9-8330 để đi mua ma tuý thì anh H1 không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không đề cặp xử lý.

Đối với bà Phạm Thị X khi mua tài sản, bà X không biết là tài sản trộm cắp, vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không đề cặp xử lý là có căn cứ.

Riêng đối với người tên N bán ma tuý cho bị cáo, bị cáo khai không rõ họ tên địa chỉ cụ thể, điện thoại thì đã xoá hết dữ liệu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không có đủ cơ sở xác minh để xử lý.

Việc thu giữ tài liệu, đồ vật:

Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã thu giữ các đồ vật, tài liệu gồm:

  • - 01 bịt nylon trong suốt được hàn kín, bên trong bịt nylon chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là chất ma tuý; 01 đoạn ống nhựa (loại ống hút) màu trắng sọc đỏ bên trong rỗng được cắt nhọn một đầu, đã qua sử dụng. Bịt nylon chứa tinh thể rắn và đoạn ống nhựa trên được để vào bên trong bịt nylon trong suốt có chứa tinh thể rắn màu trắng được cho vào phong bì miêm phong và đánh số (1).
  • - 01 bộ dụng cụ ma tuý gồm: 01 chai nhựa trong suốt có nắp màu đỏ, bên trong chai rỗng, trên nắp chai có một lỗ tròn có gắn ống nhựa (loại ống hút) màu trắng sọc đỏ bên trong rỗng, một lỗ tròn có gắn co thuỷ tinh trong suốt bên trong rỗng, có một đầu hình phiểu, bên trong phiểu có chứa chắt rắn nghi là chất ma tuý được cho vào phong bì niêm phong và đánh số (2).
  • - 01 dụng cụ mồi lửa màu xanh, đã qua sử dụng;
  • - 01 co thuỷ tinh trong suốt, bên trong rỗng, một đầu hình phiểu.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 6Z 5G màu xanh, đã qua sử dụng.

Xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho bà Nguyễn Thị Thu T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 6Z 5G màu xanh, đã qua sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Thu T1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền bị mất 4.200.000đ, bị cáo chỉ đồng ý bồi thường số tiền 1.800.000đ

3

(do bị cáo thừa nhận chỉ lấy trộm 1.800.000đ) và chưa bồi thường. Đối với Phạm Thị X yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 800.000đ tiền mua máy điện thoại. Bị cáo đã tác động cha ruột là ông Trần Văn Đ bồi thường xong, ông Trần Văn Đ không yêu cầu bị cáo trả lại.

Tại phiên toà bị cáo Trần Thanh H trình bày: Cáo trạng truy tố là đúng hành vi phạm tội của bị cáo, bản thân không có việc làm ổn định, nghiện ma tuý, không có tiền mua ma tuý sử dụng bị cáo có ý định đi lấy trộm tài sản bán lấy tiền tiêu xài cá nhân và mua ma tuý sử dụng. Nay bị cáo thấy hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, nên đã tác động gia đình bồi thường cho chị X, chuộc lại điện thoại trả cho chị T1. Riêng số tiền bị cáo xác nhận chỉ trộm trong túi xách của chị T1 có 1.800.000đ chứ không phải số tiền 4.200.000đ như chị T1 khai trong quá trình điều tra. Nay bị cáo đồng ý trả lại cho chị T1 số tiền 1.800.000đ.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo do ông Trần Văn Đ trình bày: Tôi là cha ruột của bị cáo, hoàn cảnh gia đình tôi khó khăn tôi và mẹ bị cáo ly hôn, bị cáo sống cùng bà ngoại từ nhỏ, tôi đi làm hồ ở tận Đồng Tháp ít quan tâm bị cáo, số tiền 800.000đ chuộc điện thoại lại trả cho chị T1 là tiền của tôi, tôi không yêu cầu bị cáo trả lại tôi. Nay bị cáo chưa đủ 18 tuổi số tiền bị cáo lấy trộm của chị T1 1.800.000đ tôi đồng ý trả cho chị T1. Tôi xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm về đoàn tụ gia đình.

Người bào chữa cho bị cáo bà Hà Thị H2 trình bày: Tại phiên toà bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội nên Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên tại phiên toà bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu, chưa tiền án tiền sự, gây thiệt hại không lớn gia đình có C cách mạng, lúc phạm tội bị cáo chưa đủ tuổi, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Bị cáo có gia đình không trọn vẹn, cha mẹ ly hôn, bị cáo sống với bà ngoại nên không được giáo dục dạy dỗ như bao đứa trẻ khác nên dẫn đến con đường phạm tội như hôm nay. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo 01 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý và 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản cũng đủ răn đe.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo bồi thường 1.800.000đ theo các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, đồng thời ghi nhận sự tự nguyện bồi thường cho bị hại chị T1 của ông Trần Văn Đ tại phiên toà.

Tại Bản cáo trạng số 11/CT-VKSTB ngày 25 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình đã truy tố bị cáo Trần Thanh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý và Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cuối cùng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, các điểm s khoản 1, 2 Điều 51, các Điều 90, 91, 101 của Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Thanh H mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

4

Áp dụng khoản 1 Điều 173, các khoản h, i, s khoản 1, 2 Điều 51, các Điều 90, 91, 101 của Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Thanh H mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho hai tội từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 03 tháng tù.

Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự: Buộc ông Trần Văn Đ có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị Thu T1 số tiền 1.800.000đ.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ các vật dụng không có giá trị sử dụng gồm:

  • - Mẫu tinh thể rắn màu trắng bên trong phong bì (đánh số 1) còn lại sau giám định khối lượng 0, 2273 gam, vỏ bao gói (gồm: phong bì đánh số 1, 01 bịch nylon). Toàn bộ để trong phong bì niêm phong số 691/1.
  • - Vỏ bao gói (gồm phong bì đánh số 2, 01 co thuỷ tinh), được để trong phong bì niêm phong số 691/2.
  • - 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm: 01 chai nhựa trong suốt có nắp màu đỏ, bên trong chai rỗng, trên nắp chai có một lỗ tròn có gắn ống nhựa (loại ống hút) màu trắng sọc đỏ bên trong rỗng.
  • - 01 dụng cụ mồi lửa màu xanh, đã qua sử dụng;
  • - 01 co thuỷ tinh trong suốt, bên trong rỗng, một đầu hình phiểu.
  • - 01 đoạn ống nhựa (loại ống hút) màu trắng sọc đỏ bên trong rỗng được cắt nhọn một đầu, đã qua sử dụng.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, ông Trần Văn Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thấy hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cở sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra về thời gian, địa điểm, cách thức thực hiện tội phạm, phù hợp với các chứng cứ được thu thập trong quá trình điều tra như: lời khai của những người tham gia tố tụng, biên bản khám nghiệm hiện trường. Do đó, đã đủ cơ sở quy kết bị cáo Trần Thanh H phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý và Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

5

[3] Về tính chất, mức độ phạm tội: Tính chất vụ án là nghiêm trọng, ma tuý là chất nghiện có tác hại đặc biệt nguy hiểm đối với sức khoẻ của con người. Bị cáo có hành vi tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma tuý, việc làm của bị cáo không những đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của nhà nước trong quản lý chất ma tuý, Đảng và Nhà nước ta đang ra sức đấu tranh loại bỏ tội phạm này. Ngoài ra vào ngày 21/10/2024, tại ấp E, xã H, huyện T, lợi dụng lúc nữa đêm bị hại Nguyễn Thị Thu T1 đang ngủ sai phía bên hông nhà sau không khoá cửa, bị cáo lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Oppo 6Z5G màu xanh, đã qua sử dụng có giá trị 2.500.000đ và số tiền 1.800.000đ để trong túi xách treo trên cửa tủ chén, để tiêu xài cá nhân. Do đó cần xử phạt bị cáo nghiêm khắc thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

[4] Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm, người sử dụng chất ma tuý sẽ gây nghiện, làm phát sinh tệ nạn nghiện ngập chất ma tuý trong bộ phận quần chúng nhân dân, là nguyên nhân lây truyền các căn bệnh hiểm nghèo HIV-AIDS, làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Bản thân bị cáo đã nghiện ma tuý và biết rõ ma tuý đá (Methamphetamine) là một loại ma tuý mạnh gây tác hại rất lớn đến sức khoẻ con người, bị cáo biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hiện nay tội phạm liên quan về ma tuý diễn biến phức tạp, độ tuổi sử dụng chất ma tuý có chiều hướng trẻ hoá, đã lan về vùng nông thôn sâu. Do không có tiền sử dụng ma tuý bị cáo đã có hành vi lén lút lấy trộm tiền và điện thoại của bị hại bán lấy tiền tiêu xài và sử dụng ma tuý. Dư luận quần chúng căm phẩn và lên án đòi hỏi pháp luật phải trừng trị thích đáng đối với loại tội phạm này.

Tổng trọng lượng chất ma tuý bị bắt quả tang có chứa thành phần Methamphetamine có khối lượng 0,325gam, là tình tiết định khung theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại kết luận định giá tài sản số 50/KL.ĐGTS, ngày 06/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Reno 6Z5G màu xanh, có giá trị 2.500.000đ. Tổng giá trị tài sản Trần Thanh H trộm cắp là 4.300.000đ, là tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo thấy được hành vi sai trái của mình nên đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gây thiệt hại không lớn, chưa có tiền án, tiền sự, tự nguyện tác động gia đình khắc phục một phần hậu quả, gia đình có công với cách mạng, đây được xem là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm h, i, s khoản 1, 2 Điều 51của Bộ luật hình sự.

[6] Về bồi thường thiệt hại: Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Văn Đ là người đại diện hợp pháp của bị cáo, đồng ý bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị Thùy T2 số tiền 1.800.000đ.

6

[7] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ vật dụng không có giá trị sử dụng gồm:

  • - Mẫu tinh thể rắn màu trắng bên trong phong bì (đánh số 1) còn lại sau giám định khối lượng 0, 2273 gam, vỏ bao gói (gồm: phong bì đánh số 1, 01 bịch nylon). Toàn bộ để trong phong bì niêm phong số 691/1.
  • - Vỏ bao gói (gồm phong bì đánh số 2, 01 co thuỷ tinh), được để trong phong bì niêm phong số 691/2.
  • - 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm: 01 chai nhựa trong suốt có nắp màu đỏ, bên trong chai rỗng, trên nắp chai có một lỗ tròn có gắn ống nhựa (loại ống hút) màu trắng sọc đỏ bên trong rỗng.
  • - 01 dụng cụ mồi lửa màu xanh, đã qua sử dụng;
  • - 01 co thuỷ tinh trong suốt, bên trong rỗng, một đầu hình phiểu.
  • - 01 đoạn ống nhựa (loại ống hút) màu trắng sọc đỏ bên trong rỗng được cắt nhọn một đầu, đã qua sử dụng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/01/2025, tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.)

[8] Đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình và người bào chữa cho bị cáo là có căn cứ chấp nhận.

[9] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, ông Trần Văn Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật,

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Thanh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý và Trộm cắp tài sản”.

    Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, các Điều 90, 91, 101 của Bộ luật hình sự.

    Xử phạt bị cáo Trần Thanh H 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 22/10/2024.

    Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, 2 Điều 51, các Điều 90, 91, 101 của Bộ luật hình sự.

    Xử phạt bị cáo Trần Thanh H 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 22/10/2024.

    Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Trần Thanh H phải chấp hành hai tội là 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính kể từ ngày 22/10/2024.

  2. Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự. Buộc ông Trần Văn Đ là người đại diện hợp pháp của bị cáo bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị Thùy T2 số tiền 1.800.000đ (Một triệu tám trăm ngàn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải

7

chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  1. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tuyên tịch thu tiêu huỷ vật dụng không có giá trị sử dụng gồm:

    • - Mẫu tinh thể rắn màu trắng bên trong phong bì (đánh số 1) còn lại sau giám định khối lượng 0, 2273 gam, vỏ bao gói (gồm: phong bì đánh số 1, 01 bịch nylon). Toàn bộ để trong phong bì niêm phong số 691/1.
    • - Vỏ bao gói (gồm phong bì đánh số 2, 01 co thuỷ tinh), được để trong phong bì niêm phong số 691/2.
    • - 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm: 01 chai nhựa trong suốt có nắp màu đỏ, bên trong chai rỗng, trên nắp chai có một lỗ tròn có gắn ống nhựa (loại ống hút) màu trắng sọc đỏ bên trong rỗng.
    • - 01 dụng cụ mồi lửa màu xanh, đã qua sử dụng;
    • - 01 co thuỷ tinh trong suốt, bên trong rỗng, một đầu hình phiểu.
    • - 01 đoạn ống nhựa (loại ống hút) màu trắng sọc đỏ bên trong rỗng được cắt nhọn một đầu, đã qua sử dụng.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/01/2025, tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long)

  2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Trần Thanh H phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

    Buộc ông Trần Văn Đ phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  3. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo và các đương sự biết, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại và các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Vĩnh Long;
  • - CAT. Vĩnh Long (Phòng PV06; CQCSĐT);
  • - VKS, CCTHADS huyện Tam Bình;
  • - Sở TP tỉnh Vĩnh Long;
  • - Bị cáo; TTG;
  • - Bị hại, NLQ;
  • - Lưu: VT, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Huỳnh Thị Linh

8

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HSST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG về hình sự: tàng trữ trái phép chất ma tuý và trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 15/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tàng trữ trái phép chất ma tuý và Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bc lợi dụng lúc bị hại ngủ lén lúc lấy điện thoại di động và tiền để trong giảo xách tren trên cửa tủ chén, bán điện thoại lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger