Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH ĐẠI

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 14/3/2025

V/v tranh chấp: “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Bùi Thái Dương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Tuấn Khanh;

Ông Đặng Hoàng Mích.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Quyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Loan – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Bình Đại xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 664/2024/TLST – HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2025 về tranh chấp: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST–HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2025/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị D, sinh ngày: 21/7/1981 (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp L, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.

- Bị đơn: Anh Trần Hoàng K, sinh ngày: 19/6/1980 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Ấp L, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn xin ly hôn ngày 04/9/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Bùi Thị D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị D và anh Trần Hoàng K chung sống với nhau vào năm 2007 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào năm 2008 tại UBND xã P, huyện D, tỉnh Đồng Tháp.

Trong thời kỳ hôn nhân chị Bùi Thị D và anh Trần Hoàng K chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến tháng 05 năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường hay cãi vã, anh K có quan hệ với người phụ nữ khác. Chị Bùi Thị D và anh Trần Hoàng K sống ly thân chấm dứt mọi quan hệ tình cảm vợ chồng từ tháng 05 năm 2024 cho đến nay.

Nay chị Bùi Thị D thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa. Vì vậy chị Bùi Thị D yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị Bùi Thị D được ly hôn với anh Trần Hoàng K.

Về con chung: Chị Bùi Thị D và anh Trần Hoàng K có 01 con chung tên Trần Thanh H, sinh ngày: 06/9/2010. Chị Bùi Thị D yêu cầu nuôi con chung, không yêu cầu anh K cấp dưỡng.

Về tài sản chung, về nợ chung: Chị Bùi Thị D khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Trong suốt quá trình tố tụng anh Trần Hoàng K đều vắng mặt không có lý do mặt dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án:

Yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị D là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Thị D.

Về con chung: Chị Bùi Thị D được tiếp tục nuôi con chung Trần Thanh H, sinh ngày: 06/9/2010 cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Bùi Thị D nuôi con chung không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, về nợ chung: Chị Bùi Thị D khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Trần Hoàng K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử, nhưng anh Trần Hoàng K vẫn vắng mặt không có lý do. Chị Bùi Thị D có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt anh K, chị Diệu là phù hợp quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp:

Chị Bùi Thị D khởi kiện yêu cầu xin được ly hôn với anh Trần Hoàng K, yêu cầu nuôi con chung. Do đó quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

Theo xác nhận ngày 04/9/2024 của Công an xã T, huyện B. Anh Trần Hoàng K có đăng ký thường trú tại: ấp L, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết theo trình tự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Bình Đại.

Về nội dung vụ án:

[4] Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị D và anh Trần Hoàng K chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 09/2008 ngày 18/01/2008 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp cấp. Do đó quan hệ hôn nhân giữa chị Bùi Thị D và anh Trần Hoàng K là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

[4.1] Trong thời kỳ hôn nhân do hai bên bất đồng quan điểm sống nên dẫn đến mâu thuẫn, mất lòng tin với nhau, chị Bùi Thị D cho rằng anh Trần Hoàng K có quan hệ với người phụ nữ khác. Chị và anh K sống ly thân từ tháng 05 năm 2024 cho đến nay vẫn không hàn gắn tình cảm vợ chồng. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tổ chức hòa giải để tạo điều kiện cho chị Bùi Thị D và anh Trần Hoàng K hàn gắn tính cảm nhưng chị Bùi Thị D vẫn kiên quyết xin ly hôn, anh Trần Hoàng K đều vắng mặt trong các lần hòa giải. Điều đó chứng tỏ anh Trần Hoàng K đã không còn quan tâm đến quan hệ hôn nhân này và mâu thuẫn hai bên đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

[4.2] Từ những nhận định nêu trên, căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Thị D đối với anh Trần Hoàng K.

[5] Về con chung: Chị Bùi Thị D yêu cầu nuôi con chung Trần Thanh H, sinh ngày: 06/9/2010. Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay cháu Trần Thanh H sống chung với chị Bùi Thị D vẫn phát triển bình thường, ngoài ra nguyện vọng của cháu Trần Thanh H cũng muốn sống chung với chị Bùi Thị D. Do đó giao con chung Trần Thanh H cho chị Bùi Thị D tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

[6] Ghi nhận sự tự nguyện của chị Bùi Thị D nuôi con chung không yêu cầu anh Trần Hoàng K cấp dưỡng.

[7] Về tài sản chung: Chị Bùi Thị D khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên ghi nhận. Nếu sau này anh Trần Hoàng K có tranh chấp thì có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.

[8] Về nợ chung: Chị Bùi Thị D khai không có nên ghi nhận.

[9] Đối với lời phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[10] Về án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án hôn nhân và gia đình: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc chị Bùi Thị D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Điều 51, 56, 57, 58, 80, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
  • - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Thị D đối với anh Trần Hoàng K. Chị Bùi Thị D được ly hôn với anh Trần Hoàng K.

[2] Về con chung: Giao con chung tên Trần Thanh H, sinh ngày: 06/9/2010 cho chị Bùi Thị D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.

Ghi nhận sự tự nguyện của chị Bùi Thị D nuôi con chung không yêu cầu anh Trần Hoàng K cấp dưỡng.

Anh Trần Hoàng K không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Chị Bùi Thị D trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Trần Hoàng K trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và quyết định thay đổi việc cấp dưỡng nuôi con.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Bùi Thị D khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xét đến.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án hôn nhân và gia đình: Buộc chị Bùi Thị D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Bùi Thị D đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số: 0008112 ngày 31/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại. Chị Bùi Thị D đã nộp đủ án phí.

[5] Về quyền kháng cáo:

Chị Bùi Thị D, anh Trần Hoàng K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân tỉnh Bến Tre giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - UBND xã TH. L
  • - T. Đồng Tháp (số 09/2008), quyển 01/2007;
  • - VKSND huyện Bình Đại;
  • - Chi cục THAD huyện Bình Đại;
  • - TAND tỉnh Bến Tre (P.KTNV & THA);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(ĐÃ KÝ)

Bùi Thái Dương

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Hoàng Mích

Bùi Tuấn Khanh

Bùi Thái Dương

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Lộc Thuận (số 28/2006);
  • - VKSND huyện Bình Đại;
  • - Chi cục THAD huyện Bình Đại;
  • - TAND tỉnh Bến Tre (P.KTNV & THA);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồng Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HNGĐ-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 15/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ly hôn giữa Bùi Thị D - Trần Hoàng K
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger