Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HNGĐ-PT

Ngày: 13-3-2025

V/v tranh chấp tài sản sau khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Mỹ Hương

Các Thẩm phán: Ông Phan Trí Dũng

Ông Cao Nhật Thanh.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích Liễu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Tuyền - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 63/2024/TLPT-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2024 về việc "tranh chấp tài sản sau khi ly hôn".

Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 103/2024/HNGĐ-ST ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 55/2024/QĐ-PT ngày 27 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thái T, sinh năm 1969, thường trú: số E, tổ B, khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.
    • - Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Thái Thanh H, sinh năm 1979 và ông Lê Thành D, sinh năm 1995; cùng địa chỉ: 1, tờ bản đồ số 47, tổ A, khu phố C, phường U; thành phố T, tỉnh Bình Dương (theo văn bản ủy quyền ngày 29/10/2024); ông H vắng mặt, ông D có mặt.
  2. Bị đơn: Bà Lê Thị L, sinh năm 1968, thường trú: số E, tổ B, khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.
    • - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Thiện D, Luật sư Công ty TNHH Một thành viên S thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; có mặt.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • 3.1. Ông Nguyễn Lê Thái T1, sinh năm 1996, thường trú: số E, tổ B, khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.
    • 3.2. Bà Nguyễn Lê Thái T2, sinh năm 2003; thường trú: số E, tổ B, khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.
  4. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Thái T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Nguyễn Thái T trình bày:

Ông Nguyễn Thái T và bà Lê Thị L là vợ chồng, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã (nay là phường ), huyện (nay là thành phố) Tân Uyên, tỉnh Sông Bé (nay là tỉnh Bình Dương) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 05, quyển số 03 ngày 24 tháng 9 năm 1993 và đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 17/2019/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương. Theo đó, Tòa án đã giải quyết về quan hệ hôn nhân và con chung. Nay ông Nguyễn Thái T khởi kiện bà Lê Thị L, đề nghị Tòa án giải quyết về tranh chấp tài sản, cụ thể:

  • – Công nhận xe ô tô Toyota, loại Vios G màu trắng, biển số 61A-464.45, số máy 2NRX298708, số khung 9F3X35037572 là tài sản riêng của ông Nguyễn Thái T, do ông T vay tiền của người thân trong gia đình ông T để mua.
  • - Chia đôi tài sản chung là thửa đất số 201 và tài sản gắn liền với đất gồm căn nhà cấp 4, kiot và công trình phụ trên đất. ông T yêu cầu được chia bằng hiện vật và thanh toán lại cho bà L ½ giá trị tài sản chung.

Ngày 20 tháng 8 năm 2024, ông Nguyễn Thái T rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu công nhận xe ô tô Toyota, loại Vios G màu trắng, biển số 61A-464.45 là tài sản riêng.

Bị đơn bà Lê Thị L trình bày:

Bà Lê Thị L thống nhất lời trình bày của ông Nguyễn Thái T về việc kết hôn và ly hôn.

Bà L không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông T đã tự lập tờ cam kết, xác định xe ô tô Toyota, Vios G, biển số 61A-464.45 và thửa đất số 201 tờ bản đồ số 35 tọa lạc phường K là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và đã thỏa thuận phân chia tài sản là ông Tuấn sở H1 riêng xe ô tô Toyota, Vios G, biển số 61A-464.45, còn bà L sở hữu, sử dụng riêng thửa đất số 201 tờ bản đồ số 35 tọa lạc phường K, thành phố T và căn nhà cấp 4 trên đất. Bà L đề nghị Toà án giải quyết đúng quy định pháp luật, xem xét chấp nhận thỏa thuận phân chia tài sản của bà L và ông T theo tờ cam kết ngày 22 tháng 02 năm 2019, công nhận bà L là chủ sử dụng hợp pháp và duy nhất đối với thửa đất số 201 tờ bản đồ số 35 tọa lạc phường K và căn nhà cấp 4 trên đất để bà L và các con bà L có chỗ ở, sinh sống.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Lê Thái T1, bà Nguyễn Lê Thái T2 trình bày:

Thửa đất số 201 tờ bản đồ số 35 tọa lạc phường K và căn nhà cấp 4 gắn liền với đất và xe ô tô Toyota, loại Vios G màu trắng, biển số 61A-464.45 là tài sản chung của ông Nguyễn Thái T và bà Lê Thị L. Ông T1, bà T2 chỉ sống chung cùng cha mẹ trên thửa đất 201; quá trình sống chung, ông T1 và bà T2 không có tạo lập, cải tạo, làm tăng giá trị thửa đất 201 nêu trên. Đề nghị Tòa án chia tài sản chung theo quy định của pháp luật, đề nghị giao hiện vật cho bà L vì bà L là người chăm lo và sống chung với ông T1, bà T2 tại nhà và đất nêu trên sau khi ly hôn với ông T.

Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 103/2024/HNGĐ-ST ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã quyết định:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thái T đối với yêu cầu công nhận xe ô tô Toyota, loại Vios G màu trắng, biển số 61A-464.45, số máy 2NRX298708, số khung 9F3X35037572 là tài sản riêng của ông Nguyễn Thái T.
  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thái T đối với bị đơn bà Lê Thị L về việc yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân như sau:
    1. Xác định thửa đất số 201, tờ bản đồ số 35 tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương và các tài sản trên thửa đất gồm: Nhà ở diện tích 208,1 m²; kiot diện tích 26,8 m², mái che diện tích 95,8 m², hàng rào, trụ cổng bằng bê tông là tài sản chung của vợ chồng ông Nguyễn Thái T và bà Lê Thị L.
    2. Chia tài sản chung của vợ chồng như sau:
      • Bà Lê Thị L được quyền sử dụng thửa đất số 201, tờ bản đồ số 35, diện tích đo đạc thực tế là 347,1m² tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00631/QSDĐ/TU ngày 17 tháng 5 năm 1999 do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp cho hộ ông Nguyễn Thái T và các tài sản trên thửa đất gồm: Nhà ở diện tích 208,1 m²; kiot diện tích 26,8 m², mái che diện tích 95,8 m², hàng rào, trụ cổng bằng bê tông.
      • Bà Lê Thị L được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền tiến hành đăng ký, điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
      • Bà Lê Thị L có trách nhiệm thanh toán cho ông Nguyễn Thái T 50% giá trị quyền sử dụng đất và tài sản trên đất mà ông Nguyễn Thái T được chia là: 2.160.849.713 (hai tỷ một trăm sáu mươi triệu tám trăm bốn mươi chín nghìn bảy trăm mười ba) đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, trách nhiệm chậm thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, nguyên đơn ông T kháng cáo một phần bản án sơ thẩm về tranh chấp chia tài sản chung, ông T yêu cầu được nhận hiện vật và thanh toán cho bà L ½ giá trị tài sản chung.

Quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm, ông T có yêu cầu định giá lại tài sản tranh chấp. Kết quả định giá thực hiện tại cấp phúc thẩm thể hiện giá trị tài sản tranh chấp có thay đổi, vì vậy căn cứ theo kết quả định giá ngày 12/3/2025 của Hội đồng định giá cấp phúc thẩm, giá trị tài sản tranh chấp như sau:

  1. Đất ở đô thị giá 23.000.000 đồng/m² x 263m² = 6.049.000.000 đồng; đất trồng cây lâu năm (347,1-263)m² x 12.000.000 đồng/m² = 1.009.200.000 đồng. Tổng cộng là: 7.058.200.000 đồng (bảy tỷ không trăm năm mươi tám triệu hai trăm nghìn đồng);
  2. Tài sản trên đất gồm: Nhà ở có giá 337.205.000 đồng; kiot có giá 48.855.000 đồng, mái che có giá 18.652.260 đồng, hàng rào có giá 7.454.000 đồng, trụ cổng bằng bê tông có giá 1.437.000 đồng; giá trị bồn nước: 892.000 đồng. Tổng giá trị tài sản gắn liền với đất: 414.495.000 (bốn trăm mười bốn triệu bốn trăm chín mươi lăm nghìn đồng).

Tổng giá trị tài sản đang tranh chấp: (1) + (2) = 7.472.695.000 (bảy tỷ bốn trăm bảy mươi hai triệu sáu trăm chín mươi lăm nghìn) đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.

Các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc chia tài sản khi ly hôn như sau:

Tài sản chung của ông T và bà L gồm: Phần đất có diện tích đo đạc thực tế là 347,1m² thuộc thửa đất số 201, tờ bản đồ số 35 tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương và các tài sản trên thửa đất gồm: Nhà ở diện tích 208,1m²; kiot diện tích 26,8m², mái che diện tích 95,8m², hàng rào, trụ cổng bằng bê tông, bồn nước là tài sản chung của vợ chồng ông Nguyễn Thái T và bà Lê Thị L. Tổng giá trị tài sản là 7.472.695.000 (bảy tỷ bốn trăm bảy mươi hai triệu sáu trăm chín mươi lăm nghìn) đồng, bao gồm giá trị đất là 7.058.200.000 đồng và giá trị tài sản gắn liền với đất: 414.495.000 đồng.

Bà L và ông T thống nhất chia đôi tài sản chung, ông T được chia bằng hiện vật thửa đất 201, tờ bản đồ số 35 tại phường K, thành phố T và tài sản gắn liền đất; ông T phải thanh toán 50% giá trị quyền sử dụng đất và tài sản trên đất cho bà L với số tiền 3.736.347.500 đồng.

Về án phí sơ thẩm, ông T và bà L sẽ chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật tương ứng với giá trị tài sản mỗi người được chia.

Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: ông T và bà L mỗi người chịu một nửa.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: những người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án; sự thỏa thuận giữa các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về tố tụng:
    1. Đơn kháng cáo của nguyên đơn ông T làm trong thời hạn kháng cáo nên hợp lệ và được xem xét theo thủ tục phúc thâm.
    2. Về phạm vi xét xử phúc thẩm: Nguyên đơn ông T chỉ kháng cáo yêu cầu được nhận hiện vật và thanh toán cho bà L ½ giá trị tài sản chung đối với tài sản là thửa đất số 201, tờ bản đồ số 35 và tài sản gắn liền đất; các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm, các đương sự không ai kháng cáo. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét về cách phân chia tài sản đối với thửa đất số 201, tờ bản đồ số 35 và tài sản gắn liền đất.
  2. Về nội dung: tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự ông T và bà L đã thỏa thuận với nhau về việc chia tài sản sau khi ly hôn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (ông T1, bà T2) thống nhất với ý kiến của bị đơn, không có ý kiến khác; đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị công nhận sự thỏa thuận giữa ông T và bà L; xét sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên phải được công nhận.
  3. Kháng cáo của ông T là có căn cứ chấp nhận.
  4. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ.
  5. Án phí sơ thẩm: Các đương sự phải chịu án phí có giá ngạch đối với giá trị tài sản được chia.
  6. Về chi phí tố tụng: tổng cộng là 12.728.000 đồng, gồm 8.928.000 đồng (ông T đã nộp tạm ứng ở cấp sơ thẩm) và 3.800.000 đồng (ông T đã nộp tạm ứng ở cấp phúc thẩm). Ông T và bà L mỗi người phải chịu một nửa chi phí tố tụng; do đó, bà L phải trả lại cho ông T số tiền 6.364.000 đồng.
  7. Án phí phúc thẩm: do sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của đương sự nên ông T phải chịu toàn bộ án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 147, 148, 289, 298, 300 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 33, 59 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Căn cứ Điều 27, khoản 5 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Thái T.
  2. Sửa Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 103/2024/HNGĐ-ST ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
  3. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thái T đối với bị đơn bà Lê Thị L về việc yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân như sau:
    1. Xác định thửa đất số 201, tờ bản đồ số 35 tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương và các tài sản trên thửa đất gồm: Nhà ở diện tích 208,1m²; kiot diện tích 26,8m², mái che diện tích 95,8m², hàng rào, trụ cổng bằng bê tông, bồn nước là tài sản chung của vợ chồng ông Nguyễn Thái T và bà Lê Thị L.
    2. Chia tài sản chung của vợ chồng như sau:
      • Ông Nguyễn Thái T được quyền sử dụng thửa đất số 201, tờ bản đồ số 35, diện tích đo đạc thực tế là 347,1m² tại phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00631/QSDĐ/TU ngày 17 tháng 5 năm 1999 do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp cho hộ ông Nguyễn Thái T và các tài sản trên thửa đất gồm: Nhà ở diện tích 208,1 m²; kiot diện tích 26,8 m², mái che diện tích 95,8 m², hàng rào, trụ cổng bằng bê tông, bồn nước (Sơ đồ bản vẽ kèm theo).
      • Ông Nguyễn Thái T được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền tiến hành đăng ký, điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
      • Ông Nguyễn Thái T có trách nhiệm thanh toán cho bà Lê Thị L 50% giá trị quyền sử dụng đất và tài sản trên đất mà bà Lê Thị L được chia là: 3.736.347.500 (ba tỷ bảy trăm ba mươi sáu triệu ba trăm bốn mươi bảy nghìn năm trăm) đồng.
      • Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.
    3. Về chi phí tố tụng (chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí đo đạc, định giá tài sản): tổng cộng là 12.728.000 đồng, gồm 8.928.000 đồng (ông T đã nộp tạm ứng ở cấp sơ thẩm) và 3.800.000 đồng (ông T đã nộp tạm ứng ở cấp phúc thẩm). Ông T và bà L mỗi người phải chịu một nửa, ông T đã thực hiện xong, buộc bà L phải trả lại cho ông T số tiền 6.364.000 (sáu triệu ba trăm sáu mươi bốn nghìn) đồng.
  4. Về án phí sơ thẩm:
    1. Nguyên đơn ông Nguyễn Thái T phải chịu 106.726.950 (một trăm lẻ sáu triệu bảy trăm hai mươi sáu nghìn chín trăm năm mươi) đồng án phí sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 10.300.000 (mười triệu ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số BLTU/23/0001908 ngày 31/01/2024. Ông Nguyễn Thái T còn phải nộp 96.426.950 (chín mươi sáu triệu bốn trăm hai mươi sáu nghìn chín trăm năm mươi) đồng.
    2. Bị đơn bà Lê Thị L phải nộp 106.726.950 (một trăm lẻ sáu triệu bảy trăm hai mươi sáu nghìn chín trăm năm mươi) đồng án phí sơ thẩm.
  5. Về án phí dân sự phúc thẩm:
    • Ông Nguyễn Thái T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0004296 ngày 26/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - TAND thành phố Tân Uyên;
  • - Chi cục THADS thành phố Tân Uyên;
  • - TỔ HCTP TAND tỉnh Bình Dương;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu: Hồ sơ, Tòa GĐ&NCTN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lưu Thị Mỹ Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HNGĐ-PT ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp tài sản sau khi ly hôn

  • Số bản án: 15/2025/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp tài sản sau khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: công nhận sự thỏa thuận về chia tài sản chung sau ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger