Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DẦU TIẾNG

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HS-ST

Ngày: 13-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Phương Dung;

2. Ông Trương Hữu Bình.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thọ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 74/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1981, tại tỉnh Tây Ninh; hộ khẩu thường trú: Tổ F, khu phố N, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 01/12; con ông Trương Văn M; con bà Nguyễn Thị H; vợ tên Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1996 (đã ly hôn); bị cáo có 03 anh chị em; tiền án, nhân thân: Ngày 03/11/2010, Nguyễn Văn T bị Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án số 66/2010/HSST, ngày 11/3/2011 bị cáo chấp hành xong án phạt tù, đóng xong án phí hình sự sơ thẩm vào ngày 22/8/2018; Ngày 07/8/2013, Nguyễn Văn T bị Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xử phạt 09 tháng tù về tội Đánh bạc tại Bản án số 129/2013/HS-PT, ngày 08/02/2014 bị cáo T chấp hành xong án phạt tù nhưng chưa nộp phạt bổ sung và đóng án phí hình sự sơ thẩm tại Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2013/HS-ST ngày 24/5/2013 của TAND huyện Gò Dầu; Ngày 24/10/2023, Nguyễn Văn T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh khởi tố bị can và ra Lệnh tạm giam về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo

2

quy định tại khoản 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự (Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 433/QĐ-CSĐT-CSHS ngày 24/10/2023, Quyết định khởi tố bị can số 472/QĐ-CSĐT-CSHS ngày 24/10/2023), sau đó vụ việc được chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H để điều tra theo thẩm quyền; tiền sự: Không hiện bị cáo Nguyễn Văn T đang bị tạm giam trong vụ án khác tại Trại tạm giam C (T30) Công an Thành phố H; bị cáo vắng mặt tại phiên tòa và có đơn yêu cầu vắng mặt.

- Bị hại:

Ông Đào Hoàng T1, sinh năm 1982 và bà Huỳnh Ngọc H1, sinh năm 1982; địa chỉ thường trú: Khu phố F, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn yêu cầu vắng mặt.

Bà Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1958; địa chỉ thường trú: 169/2/1 đường B, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: Khu phố F, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương. Được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Trần Thị Thanh T2, sinh năm 1992; hộ khẩu thường trú: Xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; nơi ở hiện tại: 1573, đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh khởi tố, điều tra về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Quá trình điều tra Nguyễn Văn T khai nhận đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện D, tỉnh Bình Dương. Quá trình tố tụng, xác định được hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo Nguyễn Văn T trên địa bàn huyện D như sau:

Vụ án thứ nhất:

Vào sáng ngày 03/10/2022, Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô hiệu Wave Rsx màu đỏ, biển số 79 (không nhớ rõ cụ thể biển số) mang theo 01 kìm cắt, 01 tua vít. Thoàn điều khiển xe di chuyển dọc tuyến đường ĐT 744 trên địa bàn huyện D, tỉnh Bình Dương tìm những ngôi nhà khóa cửa, không có người ở nhà để lén lút đột nhập vào nhà nhằm mục đích trộm cắp tài sản.

Khoảng 08 giờ cùng ngày, khi tới nhà ông Đào Hoàng T1 và bà Huỳnh Ngọc H1 có địa chỉ ở khu phố F, thị trấn D, huyện D, T thấy cửa ngoài khóa nên đi ra phía sau nhà, T dùng kìm cắt hàng rào kẽm B40, rồi dùng kìm cắt cánh cửa tôn phía sau nhà (vị trí chỗ cắt gần chỗ lắp khóa cửa) rồi thò tay vào trong mở chốt khóa cửa rồi vào nhà lục soát tài sản và lấy được tài sản gồm: 01 nhẫn bằng vàng trắng CZ Cty, 01 đôi bông tai bằng vàng trắng, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 loại 64GB, và 01 điện thoại di động hiệu Oppo A7.

3

Sau khi lấy được tài sản, T điều khiển xe đến thành phố Hồ Chí Minh bán điện thoại Iphone 11 cho Cửa hàng điện thoại di động Thành Hưng tại phường A, quận A, thành phố Hồ Chí Minh do bà Trần Thị Thanh T2 làm chủ được số tiền 3.600.000 đồng; điện thoại di động Oppo A7, T bán ở cửa hàng (không nhớ rõ địa chỉ cửa hàng) ở gần cầu vượt A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, được số tiền khoảng 1.000.000 đồng; nhẫn vàng và bông tai Thoàn bán ở địa bàn huyện H, thành phố Hồ Chí Minh được khoảng 3.000.000 đồng (không nhớ rõ địa chỉ cửa hàng).

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 03/KL-HDĐG ngày 16/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện D kết luận: 01 nhẫn vàng CZ Cty, trọng lượng 0,480, trong đó trọng lượng vàng là 0,460 x 2.250.000 đồng = 1.035.000 đồng; 01 đôi bông tai vàng 10K, trọng lượng 0,894 có giá là: 0,894 x 2.070 = 1.850.580 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, loại 64GB, màu tím có giá là 11.199.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Oppo A7, màu xanh có giá là 2.435.000 đồng; Tổng giá trị tài sản là 16.519.580 đồng.

Đối với điện thoại di động hiệu Iphone 11, loại 64GB, màu tím, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu hồi và trao trả cho ông Đào Hoàng T1. Còn lại những tài sản khác như nhẫn CZ Cty, bông tai vàng 10K và điện thoại Oppo A7, Thoàn không nhớ địa điểm bán, không thu hồi. Bị hại Đào Hoàng T1 và bà Huỳnh Ngọc H1 không có yêu cầu bồi thường dân sự nên ghi nhận.

Bà Trần Thị Thanh T2 không biết điện thoại di động hiệu Iphone 11, loại 64GB, màu tím mua của bị cáo Nguyễn Văn T là tài sản do T trộm cắp mà có, Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý hành vi của T2 là có căn cứ. Bà T2 yêu cầu T trả lại số tiền 3.600.000 đồng.

Vụ án thứ hai:

Với thủ đoạn tương tự như vụ thứ nhất, vào ngày 18/3/2023 Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô xe mô tô hiệu Wave Rsx màu đỏ, biển số 79 (không nhớ rõ cụ thể biển số) mang theo 01 kìm cắt, 01 tua vít. Thoàn điều khiển xe di chuyển dọc tuyến đường ĐT 744 trên địa bàn huyện D, tỉnh Bình Dương tìm những ngôi nhà khóa cửa, không có người ở nhà để đột nhập vào nhà trộm cắp tài sản.

Khi đến nhà bà Nguyễn Thị Ngọc L, có địa chỉ ở khu phố F, thị trấn D, huyện D. Thoàn thấy cửa ngoài khóa nên đi ra phía sau nhà, T dùng kìm cắt hàng rào kẽm B40, rồi dùng kìm cắt cánh cửa tôn phía sau nhà (vị trí chỗ cắt gần chỗ lắp khóa cửa) rồi dùng tay thò vào trong mở chốt khóa cửa, lúc này tay trái của T bị đứt, chảy máu, T lấy khăn giấy để lau. Khi vào nhà, T lục soát tài sản và lấy được số tiền 7.000.000 đồng và 01 vòng tay làm bằng đá cẩm thạch, có bọc vàng 18K, trọng lượng 2,5 chỉ. Số tiền trộm cắp được T đã tiêu xài cá nhân hết, còn vòng tay do không bán được nên T đã vứt bỏ trên đường về nhà (không nhớ địa điểm cụ thể đã vứt bỏ).

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 26/KL-HDĐG ngày 09/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện D kết luận: 01 vòng tay

4

làm bằng đá cẩm thạch có bọc vàng 18K, trọng lượng 2,5 chỉ có giá 8.600.000 đồng. Tổng giá trị tài sản của vụ trộm cắp là 15.600.000 đồng.

Bản Kết luận giám định số 619/K1-KTHS (ĐV) ngày 19/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Bốn (04) dấu vết đường vân (phát hiện bằng bột màu nâu đỏ, dán băng keo trong) trong vụ trộm cắp tài sản xảy ra ngày 18/3/2023 tại nhà bà Nguyễn Thị Ngọc L so với dấu vân tay ngón cái trái, cái phải và trỏ phải của Nguyễn Văn T in trên “Danh bản”, “Chỉ bản” lập ngày 12/12/2023 tại Công an huyện D của cùng một người in ra.

Bà Nguyễn Thị Ngọc L yêu cầu T trả lại số tiền 7.000.000 đồng, ngoài ra không yêu cầu gì khác (bút lục 93).

Tại Bản Cáo trạng số 15/CT-VKSDT ngày 04/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đã quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại Công văn số 107/CV-VKSDT ngày 07/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Nguyễn Văn T theo Cáo trạng số 15/CT-VKSDT ngày 04/3/2024.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương giữ nguyên quan điểm và quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn T như Cáo trạng số 15/CT-VKSDT ngày 04/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương và đề nghị:

- Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Về trách nhiệm dân sự.

Đối với điện thoại di động hiệu Iphone 11, loại 64GB, màu tím, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu hồi và trao trả cho ông Đào Hoàng T1 và bà Huỳnh Ngọc H1. Ông T1 và bà H1 không yêu cầu bị cáo T bồi thường số tiền 5.320.000 đồng là giá trị của 01 nhẫn vàng CZ Cty, trọng lượng 0,480, 01 đôi bông tai vàng 10K, trọng lượng 0,894, 01 điện thoại di động hiệu Oppo A7 (tài sản không thu hồi được). Đây là sự tự nguyện của ông T1 và bà H1 nên ghi nhận.

Bà Nguyễn Thị Ngọc L yêu cầu T bồi thường số tiền 7.000.000 đồng, bị cáo đồng ý nhưng chưa bồi thường nên cần buộc bị cáo bồi thường cho bà L số tiền trên. Bà L không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 8.600.000 đồng là giá trị của 01 vòng tay làm bằng đá cẩm thạch có bọc vàng 18K, trọng lượng 2,5 chỉ nên ghi nhận.

Bà Trần Thị Thanh T2 không biết điện thoại di động hiệu Iphone 11, loại 64GB, màu tím mua của bị cáo Nguyễn Văn T là tài sản do T trộm cắp mà có, Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý hành vi của T2 là có căn cứ. Bà T2 yêu cầu T trả lại số tiền 3.600.000 đồng, T đồng ý nên cần buộc bị cáo bồi thường số tiền trên.

5

- Xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô hiệu Wave Rsx màu đỏ, biển số 79 (không nhớ cụ thể biển số), 01 kìm cắt, 01 tua vít, xác định là phương tiện, công cụ mà bị cáo T đã sử dụng vào việc phạm tội. Tuy nhiên, xe mô tô không xác định được biển số, đồng thời xe này bị cáo T khai nhận đã bán cho người không rõ nhân thân, lai lịch nên không thu hồi được; đối với 01 kìm cắt, 01 tua vít thì bị cáo T khai nhận đã vứt bỏ, không xác định được vị trí, không thu hồi được các vật chứng trên nên không xem xét giải quyết.

Quá trình tố tụng, bị cáo Nguyễn Văn T tỏ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Tại Đơn xin vắng mặt ngày 28/02/2025, bị cáo xin Nguyễn Văn T xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại đơn yêu cầu vắng mặt ngày 12/3/2025, bị hại ông Đào Hoàng T1 và bà Huỳnh Ngọc H1 đề nghị tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện D và Điều tra viên, cơ quan Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và không bị ai khiếu nại gì về việc tiến hành các hoạt động tố tụng, thu thập chứng cứ đối với vụ án. Toàn bộ hoạt động tố tụng, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ đều hợp pháp.

[2] Ngoài hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện D, tỉnh Bình Dương, xác định được bị cáo Nguyễn Văn T còn có hành trộm cắp tài sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D, tỉnh Bình Dương đã gửi Công văn số 49/CV-ĐCSHS ngày 22/01/2024 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H (PC01) về việc đề nghị chuyển hồ sơ vụ án để điều tra theo thẩm quyền. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại chưa có kết quả trả lời từ phía Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, vì vậy TAND huyện Dầu Tiếng thụ lý, tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo T cùng bị hại ông T1 và bà H1 vắng mặt nhưng đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị hại bà L cùng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà T2 được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Xét thấy, quá trình tố tụng, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã có lời khai đầy đủ nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 290 và 292 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

6

[4] Quá trình tố tụng, bị cáo Nguyễn Văn T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, cụ thể: Vào ngày 03/10/2022, tại Khu phố F, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Văn T đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của ông Đào Hoàng T1 và bà Huỳnh Ngọc H1, tổng giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là 16.519.580 đồng; vào ngày 18/3/2023, cũng tại khu phố F, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Văn T đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của bà Nguyễn Thị Ngọc L, giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là 15.600.000 đồng. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án cùng các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Hành vi chiếm đoạt tài sản của bị cáo với giá trị tài sản lần lượt là 16.519.580 đồng và 15.600.000 đồng đã đủ căn cứ cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, xét về nhân thân, tiền án của bị cáo thấy rằng: Ngày 03/11/2010, Nguyễn Văn T bị Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án số 66/2010/HSST, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 11/3/2011 (Đến ngày 22/8/2018 mới chấp hành nộp án phí). Ngày 07/8/2013, bị cáo Nguyễn Văn T tiếp tục bị Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xử phạt 09 tháng tù về tội Đánh bạc tại Bản án số 129/2013/HS-PT, bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 08/02/2014 nhưng chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung 5.000.000 đồng và đóng án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng tại Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2013/HS-ST ngày 24/5/2013 của TAND huyện Gò Dầu. Bản án số 129/2013/HS-PT ngày 07/8/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xác định bị cáo T tái phạm. Căn cứ quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 53 và khoản 2 Điều 73 của Bộ luật Hình sự, hướng dẫn, giải đáp tại Mục 7 phần I (Về hình sự) tại Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao, có căn cứ xác định tại lần phạm tội này, bị cáo T đã phạm vào tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, bản Cáo trạng số 15/CT-VKSDT ngày 04/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là không có căn cứ. Quá trình tố tụng, TAND huyện Dầu Tiếng đã có Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung số 15/2024/HSST-QĐ ngày 24/9/2024, theo đó đã đề nghị Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng xác định Nguyễn Văn T phạm tội thuộc trường hợp “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự hay thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại Công văn số 107/CV-KSDT ngày 07/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng đã giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn T theo Cáo trạng số 15/CT-VKSDT ngày 04/3/2024. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 298 của Bộ luật Tố tụng hình sự, quyết định xét xử bị cáo Nguyễn Văn T theo quy định tại điểm g Khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

[5] Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có đầy đủ năng lực hành vi, có đủ nhận thực để biết việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân, muốn có được tài sản mà không cần bỏ sức lao động nên thực hiện hành vi trộm tài sản của người khác với lỗi cố ý trực tiếp.

7

Hành vi lén lút lợi dụng sơ hở của bị hại để vào nhà của bị hại nhằm mục đích lấy trộm tài sản của bị cáo Nguyễn Văn T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại được pháp luật hình sự bảo vệ, đồng thời làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án, gây hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân trong việc quản lý tài sản.

[6] Để đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống tội phạm mà đặc biệt là tội phạm xâm phạm quyền sở hữu trên địa bàn huyện D và cả nước nói chung nên cần phải xử lý thật nghiêm bằng hình phạt tù để bị cáo có điều kiện được giáo dục và cải tạo thành người công dân tốt sau này cũng như răn đe và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[7] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét đến nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[7.1] Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7.2] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Văn T bị áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[7.3] Ngoài ra, Hội đồng xét xử có xem xét đến nhân thân của bị cáo khi áp dụng hình phạt, cụ thể: Ngày 24/10/2023, Nguyễn Văn T bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh khởi tố bị can và ra Lệnh tạm giam về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự, vụ việc sau đó được chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H để điều tra theo thẩm quyền.

[8] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy đã áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, đồng thời bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng thêm hình phạt bổ sung theo quy định tại Khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

[9] Về trách nhiệm dân sự:

[9.1] Đối với điện thoại di động hiệu Iphone 11, loại 64GB, màu tím, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu hồi và trao trả cho ông T1 và bà H1, bị hại không có yêu cầu gì đối với tài sản này. Ông T1 và bà H1 không yêu cầu bị cáo T bồi thường số tiền 5.320.000 đồng là giá trị của 01 nhẫn vàng CZ Cty, trọng lượng 0,480, 01 đôi bông tai vàng 10K, trọng lượng 0,894, 01 điện thoại di động hiệu Oppo A7 (tài sản không thu hồi được), đây là sự tự nguyện của ông T1 và bà H1 nên ghi nhận.

[9.2] Bà Nguyễn Thị Ngọc L yêu cầu Thoàn bồi thường số tiền 7.000.000 đồng, bị cáo đồng ý nhưng chưa bồi thường nên cần buộc bị cáo bồi thường cho bà L số tiền trên. Bà L không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 8.600.000 đồng là giá trị của 01 vòng tay làm bằng đá cẩm thạch có bọc vàng 18K, trọng lượng 2,5 chỉ, đây là sự tự nguyện của bà L nên ghi nhận.

8

[9.3] Bà Trần Thị Thanh T2 không biết điện thoại di động hiệu Iphone 11, loại 64GB, màu tím mua của bị cáo Nguyễn Văn T là tài sản do trộm cắp mà có, Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý hành vi của T2 là có căn cứ. Bà T2 yêu cầu T trả lại số tiền 3.600.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường số tiền trên nên ghi nhận

[10] Đối với xe mô tô xe mô tô hiệu Wave Rsx màu đỏ, biển số 79 (không nhớ cụ thể biển số), 01 kìm cắt, 01 tua vít, xác định là phương tiện, công cụ mà bị cáo T đã sử dụng vào việc phạm tội. Tuy nhiên, xe mô tô không xác định được biển số, đồng thời xe này bị cáo T khai nhận đã bán cho người không rõ nhân thân, lai lịch nên không thu hồi được; đối với 01 kìm cắt, 01 tua vít thì bị cáo T khai nhận đã vứt bỏ, không xác định được vị trí, không thu hồi được các vật chứng trên nên không xem xét giải quyết.

[11] Ý kiến luận tội của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa về phần tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo T là có căn cứ. Riêng về điều khoản truy tố đối với bị cáo T là chưa phù hợp nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[12] Xét ý kiến của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là phù hợp, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[13] Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 135, Điều 136, Điều 290, Điều 292, Điều 298, Điều 299, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

- Căn cứ vào các Điều 357, 468, 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự.

- Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bắt để thi hành án.

3. Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo Nguyễn Văn T bồi thường cho bà bị hại bà Nguyễn Thị Ngọc L số tiền 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng).

9

Buộc bị cáo Nguyễn Văn T bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Trần Thị Thanh T2 số tiền 3.600.000 đồng (ba triệu sáu trăm nghìn đồng).

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thanh toán số tiền trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Về án phí

4.1. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

4.2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu số tiền 530.000 đồng (năm trăm ba mươi nghìn đồng).

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND huyện Dầu Tiếng;
  • - Phòng PV06- CA tỉnh Bình Dương;
  • - Cơ quan CSĐT - CA tỉnh Bình Dương;
  • - Cơ quan CSĐT – CA TP Hồ Chí Minh;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân TP Hồ Chí Minh;
  • - Trại giam Chí Hòa (T30);
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Bình Dương;
  • - CC THA DS H. Dầu Tiếng;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - UBND TT Gò Dầu, huyện Gò Dầu;
  • - Lưu: Hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Tùng

10

Trương Hữu Bình

Lê Thị Phương Dung

Trần Văn Tùng

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 15/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger