Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN BIÊN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HS-ST

Ngày 12-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Oanh Kiều.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Hữu Nghĩa;
  2. Bà Nguyễn Thị Thân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Công Thái An, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Lang và ông Lê Đăng K – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 107/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Trịnh Phát Đ, sinh ngày 22 tháng 02 năm 2000 tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Đình T và bà Nguyễn Thị P; có vợ tên Nguyễn Thị Hương Q (đã ly hôn) và 01 người con; tiền án, tiền sự: không có; bị bắt, tạm giữ từ ngày 17/7/2024 đến ngày 25/7/2024 chuyển sang tạm giam đến nay; có mặt.

2. Nguyễn Bảo T1, sinh ngày 05 tháng 01 năm 1997 tại tỉnh Tây Ninh; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú: khu phố L, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: thợ hàn; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quốc H và bà Trần Thanh Ngân G; vợ, con: chưa có; tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 126/2021/HSST ngày 30/12/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Hoà Thành, tỉnh Tây Ninh xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; tiền sự: không có; bị bắt, tạm giữ từ ngày 17/7/2024 đến ngày 25/7/2024 chuyển sang tạm giam đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Trịnh Phát Đ và Nguyễn Bảo T1 là người sử dụng trái phép chất ma túy. Để có tiền tiêu xài và có ma túy sử dụng, vào ngày 12/7/2024, bị cáo T1 mua ma túy của người tên T2 (không rõ họ tên, địa chỉ) ở khu vực xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh với số tiền 4.600.000 đồng. Sau khi có ma túy, bị cáo T1 cất giấu tại nơi ở của mình và chia nhỏ ma túy ra để bán cho bị cáo Đ 03 lần. Cụ thể như sau:

  • + Lần thứ nhất: Vào ngày 12/7/2024, bị cáo T1 bán ma túy cho bị cáo Đ với số tiền 800.000 đồng, tại nơi ở của bị cáo Đ thuộc ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Đ trả thêm tiền xăng cho bị cáo T1 với số tiền 200.000 đồng. Bị cáo T1 nhận tiền mặt từ bị cáo Đ với số tiền 1.000.000 đồng.
  • - Lần thứ hai: Vào ngày 16/7/2024, bị cáo T1 bán ma túy cho bị cáo Đ với số tiền 2.700.000 đồng, tại nơi ở của bị cáo Đ. Bị cáo Đ thỏa thuận cho thêm tiền xăng xe bị cáo T1 là 300.000 đồng. Tuy nhiên lần bán ma túy này, bị cáo T1 bán thiếu cho bị cáo bị cáo Đ. Đến nay, Đ chưa trả tiền 3.000.000 đồng cho T1.
  • - Lần thứ ba: Vào ngày 17/7/2024, tại nơi ở của bị cáo Đ, khi bị cáo T1 đang bán cho bị cáo Đ 01 bịch ny lon hàn kín, bên trong chứa chất màu trắng nghi là ma túy với giá là 1.000.000 đồng thì bị Công an huyện T bắt quả tang và thu giữ 01 bịch ny lon hàn kín, bên trong chứa chất màu trắng nghi là ma túy (được niêm phong, ký hiệu M4) cùng nhiều tài sản khác.

Khám xét khẩn cấp tại nơi ở của bị cáo T1 tại khu phố L, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh thu giữ 01 bịch ny lon bóp miệng có viền màu đỏ, bên trong có chứa chất tinh thể rắn, màu trắng nghi là ma túy và 01 bịch ny lon hàn kín, bên trong có chứa chất tinh thể rắn, màu trắng nghi là ma túy (được niêm phong, ký hiệu A1) cùng nhiều tài sản khác.

Đối với bị cáo Đ, sau khi mua ma túy từ bị cáo T1, bị cáo Đ mang về nơi ở của mình chia nhỏ ma túy ra để sử dụng và bán cho người khác, cụ thể như sau:

  • - Bán cho Nguyễn Thanh T3, sinh năm 1990, ngụ ấp S, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh 02 lần: Lần thứ nhất vào ngày 16/7/2024 bị cáo Đ bán cho T3 bịch ma túy với số tiền 200.000 đồng; lần thứ hai: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 17/7/2024, T3 sử dụng điện thoại gọi vào số điện thoại 0984.849.xxx của bị cáo Đ để hỏi mua ma túy với số tiền 200.000 đồng. Bị cáo Đ đồng ý và hẹn T3 đến nơi ở của bị cáo Đ. Đến 15 giờ 00 phút cùng ngày, T3 đến nơi ở của bị cáo Đ thì được bị cáo Đ bán cho 01 đoạn ống hút bằng nhựa bên trong chứa ma túy với số tiền 200.000 đồng.

Khi mua được ma túy, T3 cất giấu trong túi quần sọt phía sau, bên phải của mình thì bị Công an huyện T bắt quả tang thu giữ (được niêm phong, ký hiệu M1)

  • - Bán cho Huỳnh Tấn P1, sinh năm 1989, nơi cư trú ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh 02 lần: Lần thứ nhất vào ngày 17/7/2024 bị cáo Đ bán cho P1 với số tiền 300.000 đồng; Lần thứ hai: Lúc 14 giờ ngày 17/7/2024, P1 liên lạc qua Facebook của bị cáo Đ hỏi mua ma túy với số tiền 150.000 đồng. Bị cáo Đ đồng ý và hẹn P1 đến nơi ở của mình để mua ma túy. Đến 15 giờ cùng ngày, khi lực lượng Công an đang lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo Đ thì P1 đến mua ma túy. Cơ quan CSĐT Công an huyện T mời P về làm việc.

Ngoài hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Vào khoảng 10 giờ, ngày 17/7/2024, bị cáo Đ mang ma túy và bộ dụng cụ sử dụng ma túy của mình ra lối đi trước cửa phòng ngủ thứ nhất trong nhà, sau đó rủ Trần Thị Thanh H1, sinh ngày 25/11/2006, ngụ ấp H, xã H, huyện T, tỉnh Tây Ninh và Nguyễn Thanh T4, sinh năm 1990, ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh cùng sử dụng. Bị cáo Đ lấy ma túy đổ vào bộ dụng cụ sử dụng rồi dùng hộp quẹt ga đốt, nấu ma túy và sử dụng trước. Lần lượt đến H1 và T4 thay phiên nhau sử dụng trong khoảng thời gian 15 phút đến hết số ma túy trong bộ dụng cụ sử dụng. Sau khi sử dụng xong, bị cáo Đ cất giấu bộ dụng cụ sử dụng ma túy vào trong phòng ngủ thứ nhất rồi cùng H1 sử dụng điện thoại đến khi T3 đến mua ma túy và bị bắt quả tang.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo Đ thu giữ: 01 bịch nylon bóp miệng viền màu đỏ bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy (được niêm phong, ký hiệu M2) Đạt cất giữ để bán cho người khác; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 lọ thủy tinh được hàn dính với đoạn chai nhựa có nắp màu đỏ, trên nắp chai được đục 02 lỗ tròn có lắp 02 ống thủy tinh và 01 đoạn ống nhựa (được niêm phong, ký hiệu M3) cùng nhiều tài sản khác.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể: bị cáo Trịnh Phát Đ, bị cáo Nguyễn Bảo T1, Trần Thị Thanh H1, Nguyễn Thanh T4, Nguyễn Thanh T3, Huỳnh Tấn P1 dương tính với chất ma túy.

Kết quả trưng cầu giám định: Tại Bản kết luận giám định số: 1436/KL-KTHS, ngày 25/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận:

  • + Mẫu tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M1) bên trong 01 (một) đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu gửi đến giám định là chất ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng 0,0415 gam (không phẩy không bốn một năm gam);
  • + Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M2) bên trong 01 (một) bịch nylon bóp miệng viền màu đỏ gửi đến giám định là chất ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng 4,0394 gam (bổn phẩy không ba chín bốn gam);
  • + Mẫu 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy (ký hiệu M3) gửi đến giám định có chứa chất ma túy; Loại Methamphetamine; Không xác định được khối lượng vì mẫu dạng vi vết;
  • + Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M4) bên trong 01 (một) bịch nylon hàn kín gửi đến giám định là chất ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng 2,4988 gam (hai phẩy bốn chín tám tám gam);
  • + Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu Al) bên trong 01 (một) bịch nylon bóp miệng viền màu đỏ và 01 (một) bịch nylon hàn kín gửi đến giám định là chất ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng 2,2622 gam (hai phẩy hai sáu hai hai gam).

Bị cáo Nguyễn Bảo T1 đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm.

Trong quá trình điều tra, các bị cáo Trịnh Phát Đ, Nguyễn Bảo T1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo Đ và bị cáo T1 đã tự khai ra những lần phạm tội trước đó chưa bị phát hiện. Đồng thời, bị cáo Đ đã tích cực hợp tác với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh trong việc bắt quả tang đối với bị cáo Nguyễn Bảo T1.

* Kê biên tài sản: bị cáo Trịnh Phát Đ, Nguyễn Bảo T1 không có tài sản riêng có giá trị nên không tiến hành kê biên.

Cáo trạng số 105/CT-VKSTB ngày 29 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên truy tố bị cáo Trịnh Phát Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại các điểm b, i khoản 2 Điều 251 và các điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Bảo T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trịnh Phát Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tuyên bố bị cáo Nguyễn Bảo T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

  • - Căn cứ các điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm r, s, t khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trịnh Phát Đ từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • - Căn cứ các điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trịnh Phát Đ từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt theo quy định đối với bị cáo Đ.
  • - Căn cứ các điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Bảo T1 từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Căn cứ các điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Đ, B thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên đã truy tố và không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo Đ, B nói lời sau cùng: Trong thời gian bị giam giữ, các bị cáo biết hành vi của mình là sai và ăn năn hối lỗi. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến và không khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của các bị cáo thể hiện:

[2.1] Vào lúc 15 giờ ngày 17/7/2024, tại ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, công an huyện T bắt quả tang bị cáo Đ đang bán cho T3 01 bịch ma tuý, với giá 200.000 đồng, qua giám định là ma tuý loại Methamphetamin, có khối lượng 0,0415 gam. Đến khoảng 19 giờ 45 cùng ngày công an huyện T bắt quả tang bị cáo T1 đang bán cho bị cáo Đ 01 bịch ma tuý, với giá 1.000.000 đồng, qua giám định là ma tuý loại Methamphetamin, có khối lượng 2,4988 gam. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của các bị cáo: thu giữ của bị cáo Đ 01 bịch ma túy mua của T1 khối lượng 4,0394 gam và thu giữ của bị cáo T1 01 bịch ma túy khối lượng 2,2622 gam. Tổng khối lượng ma túy bị cáo Đ mua bán trái phép là 6,5797 gam, bị cáo T1 mua bán trái phép là 8,8419 gam.

Quá trình điều tra mở rộng, xác định từ ngày 12/7/2024 đến ngày 16/7/2024 bị cáo T1 bán ma tuý cho bị cáo Đ 02 lần với số tiền 4.000.000 đồng; bị cáo Đ bán cho Nguyễn Thanh T3 02 lần với số tiền 400.000 đồng; bán cho Huỳnh Tấn P1 01 lần số tiền 300.000 đồng. Ngày 17/7/2024, khi P1 đến nhà bị cáo Đ mua ma tuý thì bị công an bắt.

Do đó, hành vi của các bị cáo Nguyễn Bảo T1, Trịnh Phát Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung tăng nặng “Phạm tội hai lần trở lên”;“methamphetamin, ..có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam”, tội phạm và hình phạt được quy định tại các điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

[2.2] Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 17/7/2024, tại nhà của bị cáo Đ ở ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, bị cáo Đ có hành vi cung cấp ma túy, bộ dụng cụ sử dụng, địa điểm và cùng thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy với Trần Thị Thanh H1 sinh ngày 25/11/2006 và Nguyễn Thanh T4, sinh năm 1990, ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh cùng sử dụng. Hành vi của bị cáo Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và thuộc trường hợp phạm tội “Đối với 02 người trở lên” và “đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi;”quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Do đó, Cáo trạng số 105/CT-VKSTB ngày 29/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên truy tố các bị cáo là có căn cứ.

[3] Tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, an ninh chính trị tại địa phương, ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển con người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác. Các bị cáo là người đã thành niên, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình nhưng vì mục đích thu lợi bất hợp pháp, ham muốn của bản thân nên đã thực hiện hành vi của mình với lỗi cố ý. Vì vậy cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc để đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo T1 có tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” nhưng không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo thành khẩn khai báo đầy đủ, đúng sự thật những tình tiết liên quan đến hành vi phạm tội đã thực hiện và tự nguyện khai báo về hành vi phạm tội của mình trước khi tội phạm, người phạm tội bị phát hiện. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

Đối với bị cáo Đ tích cực hợp tác với cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T giúp điều tra, xử lý hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của bị cáo T1 đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Hình phạt áp dụng:

[6.1] Hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội, đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa tội phạm.

[6.2] Hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[7] Biện pháp tư pháp: Căn cứ các điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

  • - Tiền Việt Nam 1.520.000 đồng của bị cáo T1 và 300.000 đồng của bị cáo Đ là tiền mua bán trái phép chất ma túy cho người khác; 02 điện thoại di động là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng để thực hiện việc mua bán trái phép chất ma túy; Hội đồng xét xử tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
  • - 01 cân tiểu ly, 01 hột quẹt ga, 01 kéo kim loại, 02 sim điện thoại, 04 bì thư bên trong chứa chất ma túy là vật chứng trong vụ án, công cụ, phương tiện phạm tội không có giá trị sử dụng và chất thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.

[9] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trịnh Phát Đ, Nguyễn Bảo T1, Trần Thị Thanh H1, Nguyễn Thanh T4, Nguyễn Thanh T3, Huỳnh Tấn P1 Công an xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ.

Đối với người tên “T2” là người bán ma túy cho Nguyễn Bảo T1, do hiện tại chưa xác định được nhân thân, lý lịch nên chưa làm việc được, khi nào xác định được và có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

[10] Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các bị cáo T1, Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trịnh Phát Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma túy”; tuyên bố bị cáo Nguyễn Bảo T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

1.1. Căn cứ vào các điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trịnh Phát Đ 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

  • - Căn cứ vào các điểm b, i khoản 2 Điều 251; các điểm r, s, t khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trịnh Phát Đ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt bị cáo Trịnh Phát Đ phải chấp hành hình phạt chung về các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma túy” là 15 (mười lăm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 17/7/2024.

1.2. Căn cứ vào điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Bảo T1 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 17/7/2024.

2. Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 (một) bì thư niêm phong ghi số 1436/M2, có chữ ký của giám định viên Võ Quốc T5 và trợ lý giám định Hà Minh L có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh T, bên trong chứa 3,9034 gam (ba phẩy chín không ba bốn gam) chất ma túy; Loại Methamphetamine được hoàn lại sau giám định.
  • + 01 (một) bì thư niêm phong ghi số 1436/M3, có chữ ký của giám định viên Võ Quốc T5 và trợ lý giám định Hà Minh L có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh T, bên trong chứa 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 (một) lọ thủy tinh được hàn dính với một đoạn chai nhựa có nắp màu đỏ trên nắp chai nhựa đục 02 lỗ tròn cắm ống thủy tinh và ống nhựa được hoàn lại sau giám định.
  • + 01 (một) bì thư niêm phong ghi số 1436/M4, có chữ ký của giám định viên Võ Quốc T5 và trợ lý giám định Hà Minh L có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh T, bên trong chứa 2,3447 gam (hai phẩy ba bốn bốn bảy gam) chất ma túy; Loại Methamphetamine được hoàn lại sau giám định.
  • + 01 (một) bì thư niêm phong ghi số 1436/A1, có chữ ký của giám định viên Võ Quốc T5 và trợ lý giám định Hà Minh L có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh T, bên trong chứa 2,1215 gam (hai phẩy một hai một năm gam) chất ma túy; Loại Methamphetamine được hoàn lại sau giám định.
  • + 01 (một) kéo kim loại; 01 (một) cân tiểu ly; 01 (một) hộp quẹt ga;
  • + 01 sim điện thoại số 0984.849.xxx, 01 sim điện thoại số 0333.201.xxx đã qua sử dụng.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: tiền Việt Nam 1.520.000 đồng của bị cáo T1 và 300.000 đồng của bị cáo Đ; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, số

imel 869442061932152, đã qua sử dụng của bị cáo Đ; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, số imel 863801067446471, đã qua sử dụng của bị cáo T1.

(Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên và có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 06/12/2024)

3. Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Bảo T1, Trịnh Phát Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT TANDTC (Vụ 1);
  • - TAND Cấp cao tại Tp.Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Cấp cao tại Tp.Hồ Chí Minh;
  • - Phòng KTNV.TA tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND huyện Tân Biên;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự;
  • - Nhà tạm giữ công an huyện Tân Biên;
  • - Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Biên;
  • - Phòng lý lịch - Sở tư pháp tỉnh Tây Ninh;
  • - Phòng PV 06 Công an tỉnh Tây Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Oanh Kiều

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH về mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 15/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGUYEN BAO TRI, TRINH PHAT DAT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger