Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NAM ĐÀN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HS-ST

Ngày 12 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Hoàng Hào.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Quốc Dũng.

Bà Nguyễn Thị Thảo.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lộc - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Phan Hữu T, sinh năm 1981 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm E, xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Hữu C (chết) và bà Thái Thị M; Có vợ: Nguyễn Thị H và 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 17/9/2014, bị Công an huyện N, tỉnh Nghệ An xử phạt hành chính số tiền 1.000.000 đồng về hành vi “đánh bạc” (đã chấp hành xong); bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Có mặt.

Bị hại: Bà Nguyễn Thị Q (đã chết).

Đại diện hợp pháp của bị hại bà Nguyễn Thị Q:

  1. Ông Nguyễn Ngọc N, sinh năm 1957; nơi cư trú: Xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Là chồng của bị hại. Vắng mặt.
  2. Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1981; nơi cư trú: Khối T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Là con đẻ của bị hại. Vắng mặt.
  3. Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1988; nơi cư trú: Xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Là con đẻ của bị hại; Vắng mặt.
  4. Chị Nguyễn Thị M1, sinh năm 1989; nơi cư trú: Xóm L, xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An. Là con đẻ của bị hại; Vắng mặt.

Đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Thị V, chị Nguyễn Thị H1 và chị Nguyễn Thị M1: Ông Nguyễn Ngọc N. Vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Công ty TNHH H3. Địa chỉ: Xóm T, xã H, huyện N, tỉnh Nghệ An. Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Khánh H2, chức vụ: Giám đốc. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 07 giờ 20 phút ngày 09/01/2025, Phan Hữu T điều khiển xe ô tô biển số 37H-053.39 kéo theo sơmi rơ moóc biển số 37R-045.83 của Công ty TNHH H3 đi từ xã H, huyện N, tỉnh Nghệ An đến huyện T, tỉnh Nghệ An để chở cát. Khi đi đến Km 37+700 Quốc lộ D đoạn thuộc xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An thì T dừng xe ở bên đường theo hướng di chuyển rồi xuống xe mua xôi. Đến khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, Phan Hữu T lên lái xe tiếp tục đi. Khi bắt đầu di chuyển, Phan Hữu T không bật đèn xi nhan trái để báo hiệu nhập làn đường và không chú ý quan sát tất cả các gương xe, trong đó có gương cầu lồi được gắn cố định ở phía trên bên phải phía trước xe nên không nhìn thấy bà Nguyễn Thị Q đang dắt xe đạp đi bộ qua đường theo hướng từ phía đường đối diện xe ô tô đang dừng đi sang phía trước đầu xe nên đã gây tai nạn giao thông khiến bà Q tử vong tại chỗ.

Tại Bản kết luận giám định tử thi số 24/KLGĐTT-KTHS ngày 14/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh N đối với bà Nguyễn Thị Q kết luận:

  1. Các kết quả chính: Bên ngoài nạn nhân bị nhiều vết thương, xây xát, mài miết, mất lớp thượng bì da, rách da, bầm tụ máu. Mẻ, vỡ, lún xương hộp sọ. Máu trong hộp sọ chảy ra ngoài qua đường vỡ xương và vết thương.
  2. Kết luận nguyên nhân chết: Mẻ, vỡ, lún xương hộp sọ, xuất huyết não do chấn thương.

Tại Bản kết luận giám định dấu vết cơ học trong vụ tai nạn giao thông số 26/KL-KTHS(DVCH) ngày 21/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:

  1. Chiều hướng và phần đường di chuyển của hai phương tiện ngay khi xảy ra tai nạn: Xe ô tô mang biển số 37H-053.39 kéo theo rơ moóc mang biển số 37R-045.83 di chuyển trên làn đường dành cho xe thô sơ phía Bắc đường Q, theo hướng từ thị trấn N đi huyện T. Xe đạp đang ở trên làn đường dành cho xe thô sơ phía Bắc đường Quốc lộ 46, phần đầu xe hướng đi phía Bắc, phần đuôi xe hướng đi phía Nam.
  2. Xe ô tô mang biển số 37H-053.39 kéo theo rơ moóc mang biển số 37R-045.83 và xe đạp có va chạm với nhau. Vị trí va chạm đầu tiên:
    • - Trên hiện trường: Ở trên làn đường dành cho xe thô sơ phía Bắc đường Quốc lộ 46 (vị trí đối diện phía trước điểm đầu vết cày trượt mặt đường ký hiệu số 3 trên sơ đồ hiện trường).
    • - Trên xe ô tô mang biển số 37H-053.39 kéo theo rơ moóc mang biển số 37R-045.83: Ở mặt trước đầu xe ô tô mang biển số 37H-053.39.
    • - Trên xe đạp: Ở phần phía bên phải xe.
  3. Không đủ cơ sở xác định tốc độ của xe ô tô mang biển số 37H-053.39 kéo theo rơ moóc mang biển số 37R-045.83 và xe đạp ngay khi xảy ra tai nạn.

Bản cáo trạng số: 23/CT-VKSNĐ ngày 25/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An đã truy tố Phan Hữu T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung cáo trạng, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phan Hữu T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Hữu T mức án từ 13 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 26 đến 30 tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Không yêu cầu giải quyết.

Về vật chứng: Trả lại cho Phan Hữu T giấy phép lái xe số [...] hạng A1, FC do Sở Giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 28/7/2023 mang tên Phan Hữu T.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo Phan Hữu T đồng ý với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không tranh luận gì.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Xét thấy việc vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định Điều 290 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về hành vi và tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Phan Hữu T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:

Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 09/01/2025, tại Km 37+700 Quốc lộ D đoạn thuộc xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, Phan Hữu T điều khiển xe ô tô biển số 37H-053.39 kéo theo sơmi rơ moóc biển số 37R-045.83 không chú ý quan sát tất cả các gương xe, không bật đèn xi nhan trái để báo hiệu xe bắt đầu di chuyển khi ra khỏi vị trí dừng xe nên xảy ra va chạm với bà Nguyễn Thị Q đang dắt xe đạp đi bộ qua đường khiến bà Q tử vong tại chỗ. Hành vi nêu trên của Phan Hữu T đã vi phạm điểm a khoản 3 Điều 12 và điểm a khoản 3 Điều 18 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024 quy định: “Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải quan sát, giảm tốc độ hoặc dừng lại để bảo đảm an toàn trong trường hợp sau đây: tại nơi mà người đi bộ đang qua đường; Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ khi dừng xe trên đường phải thực hiện quy định sau đây: có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ khác biết khi ra, vào vị trí dừng xe, đủ các yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Do đó, cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[4] Về áp dụng hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của người khác, làm mất trật tự an toàn xã hội và gây tâm lý lo lắng cho người tham gia giao thông nên cần xử nghiêm. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại và khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo có bố đẻ là ông Phan Hữu C được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba, chú ruột là Phan Hữu T1 là Liệt sỹ. Mẹ đẻ Thái Thị M được Sở L cấp Quyết định trợ cấp số 1442/QĐ-NCC ngày 21/11/2013 vì có công thờ cúng liệt sỹ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội với lỗi vô ý, không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù mà có khả năng tự cải tạo tại địa phương nên việc cho bị cáo được hưởng án treo không ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại đã tự nguyện thỏa thuận mức bồi thường thiệt hại, không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về vật chứng: Đối với giấy phép lái xe số [...] hạng A1, FC do Sở Giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 28/7/2023 mang tên Phan Hữu T. Xét không áp dụng hình phạt cấm hành nghề đối với bị cáo, tại phiên toà bị cáo xin được nhận lại nên cần trả lại cho bị cáo Phan Hữu T.

Các vật chứng đã được trả cho chủ sở hữu trong quá trình điều tra đúng quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[9] Các đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Hữu T 13 (mười ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 26 (hai mươi sáu) tháng về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Thời gian thử thách của án treo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 12 tháng 3 năm 2025.

    Giao bị cáo cho UBND xã X, huyện N, tỉnh Nghệ An nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại cho Phan Hữu T giấy phép lái xe số [...] hạng A1, FC do Sở Giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 28/7/2023 mang tên Phan Hữu T. (Vật chứng có tại hồ sơ vụ án).
  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phan Hữu T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Nam Đàn;
  • - Chi cục THADS huyện Nam Đàn;
  • - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Xuân Hồng, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An;
  • - Bị cáo; Đại diện HP bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP.TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vương Hoàng Hào

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 15/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Hữu Trung - VP giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger