Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỎ CÀY BẮC

TỈNH BẾN TRE

Bản án số: 15/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 12-3-2025

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC - TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Nhớ

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Chí Hữu
  2. Ông Hồ Văn Thái

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Bình– Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc công khai xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 04/2025/TLST-HNGĐ, ngày 06/01/2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 14/02/2025, Quyết định hoãn phiên toà số: 18/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 04/3/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thu N, sinh năm 1995;

Địa chỉ: ấp P, xã N, huyện M, tỉnh Bến Tre.

- Bị đơn: Anh Huỳnh Văn L, sinh năm 1993;

Địa chỉ: ấp T, xã N, huyện M, tỉnh Bến Tre.

Chị N có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Anh L vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 04/9/2025 và các lời trình khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị Thu N trình bày:

Do quen biết và sau thời gian tìm hiểu không lâu chị và anh Huỳnh Văn L tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân N1, ngày 02/4/2021. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu và sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi vả nhau do anh L không chí thú làm làm ăn mà tụ tập ăn chơi, không quan tâm chăm sóc vợ con. Chị và gia đình rất nhiều lần tâm sự, khuyên anh L nhưng anh vẫn không thay đổi. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị xin ly hôn với anh Huỳnh Văn L.

Con chung: trong thời gian chung sống vợ chồng có 02 con chung tên Huỳnh Thiên H, sinh ngày 25/8/2022 và Huỳnh Duy M, sinh ngày 15/5/2024, hiện đang sống với chị N, sau khi ly hôn chị N yêu yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung chị N để vợ chồng tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết; nợ chung chị N trình bày không có. Do bận đi làm nên chị N có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Bị đơn anh Huỳnh Văn L vắng mặt vào tất cả các lần Toà án mời nên không có lời trình bày.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát trình bày quan điểm kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự:

Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng thực hiện đúng quy định pháp luật từ khi thụ lý đến xét xử; nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình cụ thể còn vắng mặt những lần Tòa án mời; Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Thu N đối với anh Huỳnh Văn L. Về con chung: Chị N được quyền tiếp tục trực tiếp nuôi con chung tên Huỳnh Thiên H, sinh ngày 25/8/2022 và Huỳnh Duy M, sinh ngày 15/5/2024, hiện đang sống với chị, anh Huỳnh Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con do chị N không có yêu cầu. Về chia tài sản khi ly hôn: chị Lê Thị Thu N trình bày tài sản chung để vợ chồng tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét, nợ chung không có nên không đề cập.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân; Bị đơn Huỳnh Văn L có địa chỉ cư trú tại xã N, huyện M nên căn cứ khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý nên căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.

Về nội dung:

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Thu N đối với anh Huỳnh Văn L, thấy rằng: Về hôn nhân: Chị N và anh L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, không vi phạm các điều kiện kết hôn nên hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Chị N cho rằng sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu và sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống do anh L không chí thú làm làm ăn mà tụ tập ăn chơi, không quan tâm chăm sóc vợ con nên thường xuyên cãi vả nhau. Chị và gia đình rất nhiều lần tâm sự, khuyên anh L nhưng anh vẫn không thay đổi. Nay thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị xin ly hôn với anh Huỳnh Văn L. Hội đồng xét xử thấy rằng: hôn nhân của anh chị xuất phát từ nền tảng tình yêu, lẽ ra trong thời gian chung sống có mâu thuẫn xảy ra anh chị phải cùng nhau tìm cách khắc phục những hạn chế, khuyết điểm của bản thân nhằm xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc nhưng anh L không chí thú làm ăn, không quan tâm chăm sóc vợ con làm ảnh hưởng đến tình cảm vợ chồng mà cụ thể là vi phạm tình nghĩa vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Mặt khác, phía anh L mặc dù đã được Tòa án triệu tập nhiều lần để tạo cơ hội cho anh hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị N nhưng anh không đến cũng không có văn bản thể hiện ý kiến của anh, những điều này chứng tỏ anh L không mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị N. Nay chị N kiên quyết yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn do không còn tình cảm vợ chồng với anh L và điều đó chứng tỏ mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chị là đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Thu N đối với anh Huỳnh Văn L là có căn cứ.

Về con chung: chị Lê Thị Thu N trình bày trong thời gian chung sống, anh chị có 02 con chung tên Huỳnh Thiên H, sinh ngày 25/8/2022 và Huỳnh Duy M, sinh ngày 15/5/2024 hiện đang sống với chị, sau khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi 02 con chung và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy từ trước đến nay con chung đều do chị N nuôi dưỡng, chăm sóc nên nghĩ để chị N tiếp tục nuôi 02 con chung sau khi anh chị ly hôn là phù hợp quy định pháp luật và đã xem xét quyền lợi về mọi mặt của các cháu nhằm không làm xáo trộn cuộc sống cũng như sinh hoạt, học tập của các cháu. Ghi nhận việc chị N không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi 02 con.

Về chia tài sản khi ly hôn: Chị Lê Thị Thu N trình bày tài sản chung để vợ chồng tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét, nợ chung chị N trình bày không có nên Hội đồng xét xử không đề cập.

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Lê Thị Thu N phải chịu theo quy định pháp luật.

Xét quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Thu N.

Chị Lê Thị Thu N được ly hôn với anh Huỳnh Văn L.

2. Về con chung: Chị Lê Thị Thu N được quyền tiếp tục trực tiếp nuôi 02 con chung tên Huỳnh Thiên H, sinh ngày 25/8/2022 và Huỳnh Duy M, sinh ngày 15/5/2024, hiện đang sống chung với chị N, anh Huỳnh Văn L không phải cấp dưỡng nuôi 02 con do chị N không có yêu cầu.

Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình và các luật khác có liên quan. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về chia tài sản khi ly hôn: Chị Lê Thị Thu N trình bày tài sản chung để vợ chồng tự thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét, nợ chung chị N trình bày không có nên không đề cập.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

Chị Lê Thị Thu N phải chịu 300.000 đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0006697 ngày 06/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre nên không còn phải nộp thêm.

5. Về quyền kháng cáo và thi hành án:

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử lại theo trình tự thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bến Tre (1b);
  • - VKSND huyện Mỏ Cày Bắc (2b);
  • - Chi Cục THADS huyện Mỏ Cày Bắc (1b);
  • - Các đương sự (2b);
  • - UBND xã Nhuận Phú Tân, ĐKKH số 22, ngày 02/4/2021 (1b);
  • - Lưu:Hồ sơ, VP (2b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hoài Nhớ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HNGĐ-ST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 15/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Ngân xin ly hôn với anh Lộc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger