|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 15/2025/HS-ST
Ngày 10-03-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Duy Viên; nghề nghiệp: Giáo viên nghỉ hưu.
- Ông Hoàng Văn Đoan; nghề nghiệp: Bí thư Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh xã Tiên Thanh, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
- Thư ký phiên toà: Ông Nghiêm Quang Trường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2025 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 02/TB-TA ngày 27 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Vũ Thành H, sinh ngày 29 tháng 10 năm 2006 (đến ngày phạm tội bị cáo 17 tuổi 11 tháng 29 ngày) tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn B, sinh năm 1976 và bà Đào Thị T, sinh năm 1978; chưa có vợ, con.
Tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2024/HS-ST ngày 02 tháng 02 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt bị cáo 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng về tội Gây rối trật tự công cộng (Bị cáo đang chấp hành thời gian thử thách của án treo thì phạm tội mới); tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 29 tháng 10 năm 2024 đến ngày 06 tháng 11 năm 2024 chuyển tạm giam; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Mai Văn V, sinh năm 1989; nơi công tác: Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện T, thành phố Hải Phòng; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt
Người làm chứng: Ông Vũ Văn T1, ông Trần Văn T2, ông Nguyễn Văn H1 và ông Nguyễn Thế Đ: Đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
+ Anh Vũ Gia H2 và bà Đoàn Thị T3; đều có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thực hiện Kế hoạch số 44/KH-GT ngày 28-10-2024 của Công an huyện T về đảm bảo trật tự an toàn giao thông; ngày 28-10-2024 tổ công tác gồm 05 đồng chí thuộc Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện lập chốt kiểm tra phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm về an toàn giao thông đường bộ tại khu vực đường B thuộc thôn Đ, xã T (nay là xã T), huyện T; khi thực hiện nhiệm vụ các đồng chí trong tổ công tác đều sử dụng trang phục theo đúng điều lệnh của Ngành Công an nhân dân.
Khoảng 17 giờ ngày 28-10-2024, tổ công tác phát hiện V Hơn điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 16L7-9130 chở bạn là Vũ Gia H2 tham gia giao thông trên đường 212 theo hướng cầu Đ đi UBND xã T nhưng cả hai đều không đội mũ bảo hiểm, xe mô tô không có gương chiếu hậu bên trái vi phạm khoản 2 Điều 30, khoản 2 Điều 53 của Luật Giao thông đường bộ năm 2008 (nay là khoản 2 Điều 33 của Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024), Điều 14 Nghị định 168/2024/NĐ-CP ngày 26-12-2024 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông trong lĩnh vực giao thông đường bộ nên khi xe của Hơn cách chốt khoảng 50m tổ công tác đã yêu cầu H dừng xe để kiểm tra, xử lý vi phạm. Đồng chí Trần Văn T2 thành viên tổ công tác ra tín hiệu dừng xe đối với Hơn bằng còi và gậy chỉ huy giao thông, các đồng chí Nguyễn Văn H1 và Mai Văn V đứng phía sau hỗ trợ kiểm tra vi phạm. Khi thấy hiệu lệnh dừng xe, do H không có giấy phép lái xe và điều khiển xe mô tô không đội mũ bảo hiểm, lo sợ sẽ bị xử phạt vi phạm nên Hơn không chấp hành hiệu lệnh dừng xe của tổ công tác mà điều khiển xe tăng tốc hướng về chốt kiểm tra với mục đích khiến các đồng chí Cảnh sát giao thông sợ và tránh đường để H bỏ chạy, do không làm chủ được phương tiện nên xe mô tô của H đã đâm va vào đồng chí V khiến đồng chí V ngã văng vào lề đường bị thương phải đi điều trị tại Bệnh viện K, còn xe của H mất lái đổ ra đường. Tổ công tác Đội Cảnh sát giao thông-trật tự Công an huyện T phối hợp Công an xã bắt giữ, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo, thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 16L7-9130 cùng đăng ký của xe mang tên Nông Quang Lê .
Tiến hành kiểm tra nồng độ cồn, xét nghiệm ma tuý đối với bị cáo vào hồi 19 giờ 05 phút ngày 28-10-2024, kết quả nồng độ cồn trong hơi thở của bị cáo là 0,000mg/1 khí thở và âm tính với các chất ma tuý.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 886/2024/KLTTCT-TTPYHP ngày 29-11-2024 của Trung tâm P, kết luận thương tích của ông Mai Văn V: Bầm tím vùng mặt, xây xước da vùng khuỷu tay phải, 1/3 trên cẳng tay phải, 1/3 trên cẳng chân phải, tổn thương chấn động não, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 08%. Các thương tích trên có đặc điểm do tác động tương hỗ trực tiếp với vật tày gây nên”.
2
Tại báo cáo, lời khai của các đồng chí Trần Văn T2, Nguyễn Văn H1, Mai Văn V và thành viên tổ công tác xác định: xác định: Chiều ngày 28-10-2024, tổ công tác Công an huyện T lập chốt kiểm tra phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm về an toàn giao thông đường bộ tại khu vực đường B thuộc thôn Đ, xã T (nay là xã T), huyện T. Khi tổ công tác ra hiệu lệnh dừng xe để kiểm tra và xử lý hành vi vi phạm của H thì H không chấp hành hiệu lệnh dừng xe của tổ công tác đồng thời điều khiển xe tăng tốc đâm va vào đồng chí Mai Văn V là thành viên tổ công tác. Do bị H cản trở nên tổ công tác không thể thực hiện dừng xe, kiểm tra xử phạt đối với hành vi vi phạm giao thông của H đồng thời làm đồng chí V bị thương phải đi điều trị tại Bệnh viện, tổ công tác không thể tiếp tục thực hiện nhiệm vụ. Đồng chí V không yêu cầu bị cáo phải bồi thường dân sự.
Quá trình điều tra và tại phiên toà anh Vũ Gia H2 trình bày: Khi tham gia giao thông Hơn là người điều khiển xe chở H2 phía sau, H không có giấy phép lái xe, cả hai đều không đội mũ bảo hiểm sợ bị xử phạt nên H đã không chấp hành hiệu lệnh dừng xe của tổ công tác. Việc H không chấp hành yêu cầu dừng xe để kiểm tra và có hành vi cản trở tổ công tác do H thực hiện một mình, H2 không tham gia, không kích động, xúi giục Hơn cản trở tổ công tác thực hiện nhiệm vụ.
Tại Phiếu trả lời xác minh xe của Công an huyện T và Kết luận giám định số 3508/KL-KTHS của Phòng K1 Công an thành phố H, kết luận: Xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu HONDA, dung tích xi lanh 97cm³ mang BKS 16L7-9130, chủ xe Nông Quang L, địa chỉ: Khu E, thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng, có số khung, số máy là số nguyên thuỷ, không phát hiện thấy có sự tẩy xoá, sửa chữa các ký tự.
Quá trình điều tra và tại phiên toà ông Nông Quang L và bà Đoàn Thị T3 trình bày: Xe ô tô BKS 16L7-9130 được ông Lê M từ năm 2006 đến năm 2022 ông L đã bán cho bà T3 với giá 6.000.000 đồng; có giấy tờ mua bán nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Chiều ngày 28-10-2024, bà T3 không biết H lấy xe của bà để tham gia giao thông; bà đã nhận lại xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 16L7-9130 và đăng ký mô tô, xe máy mang tên Nông Quang L và không có yêu cầu gì.
Bản cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 11-01-2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Vũ Thành H về tội Chống người thi hành công vụ theo khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên và khai bị cáo không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định; chiều ngày 28-10-2024, bị cáo tự ý lấy xe mô tô BKS 16L7-9130 của mẹ đẻ là bà Đoàn Thị T3 chở Vũ Gia H2 đi chơi. Do bị cáo không có giấy phép lái xe, không đội mũ bảo hiểm, xe không có gương chiếu hậu lo sợ sẽ bị xử phạt vi phạm nên bị cáo không chấp hành hiệu lệnh dừng xe của tổ công tác mà điều khiển xe tăng tốc hướng về chốt kiểm tra với mục đích khiến các đồng chí Cảnh sát giao thông sợ và tránh đường để bỏ chạy. Hành vi không chấp hành hiệu lệnh dừng xe của bị cáo đã cản trở tổ công tác không thể thực hiện dừng xe, kiểm tra xử phạt đối với hành vi vi phạm giao thông của bị cáo đồng thời làm đồng chí V bị thương phải đi điều trị tại Bệnh viện, tổ công tác không thể tiếp tục thực hiện nhiệm vụ. Việc cản trở, không chấp hành yêu cầu của tổ công tác do một mình bị cáo thực
3
hiện, H2 đi cùng nhưng không tham gia, không có lời nói, hành động kích động hay xúi giục bị cáo thực hiện hành vi bỏ chạy.
Kiểm sát viên khẳng định Cáo trạng truy tố bị cáo về tội Chống người thi hành công vụ là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Căn cứ tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 330, Điều 38, Điều 56, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự; Điều 179 và Điều 119 của Luật Tư pháp người chưa thành niên, xử phạt bị cáo Vũ Thành H từ 12 tháng tù đến 18 tháng tù về tội Chống người thi hành công vụ.
Tổng hợp với 15 (Mười lăm) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2024/HS-ST ngày 02 tháng 02 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng. Buộc Vũ Thành H phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án. Trừ cho bị cáo thời hạn tạm giữ, tạm giam (từ ngày 24 tháng 03 năm 2023 đến ngày 22 tháng 05 năm 2023) của Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2024/HS-ST ngày 02 tháng 02 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 29 tháng 10 năm 2024.
- Về dân sự: Ông Mai Văn V không yêu cầu bị cáo phải bồi thường dân sự nên không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
- [1] Các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra và Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên thu thập đã đầy đủ và theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định.
- [2] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [3] Về những người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (ông Mai Văn V) và người làm chứng (ông Vũ Văn T1, ông Trần Văn T2, ông Nguyễn Văn H1 và ông Nguyễn Thế Đ) đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do những người vắng mặt đã có lời khai tại Cơ quan điều tra nên căn cứ vào Điều
4
292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt những người này.
- Về tội danh và hình phạt:
- [4] Lời khai của bị cáo Vũ Thành H tại phiên toà phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng; biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng; biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận: Ngày 28-10-2024, tại đường B thuộc thôn Đ, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; tổ công tác thuộc Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện T thực hiện nhiệm vụ kiểm tra xử lý các hành vi vi phạm về giao thông đường bộ theo Kế hoạch số 44/KH-GT ngày 28-10-2024 của Công an huyện T; khoảng 17 giờ cùng ngày, bị cáo điều khiển xe mô tô chở Vũ Gia H2 phía sau tham gia giao thông không đội mũ bảo hiểm, không có gương chiếu hậu đã vi phạm quy định của Luật Giao thông đường bộ nên tổ công tác yêu cầu dừng xe, kiểm tra nhưng bị cáo không chấp hành mà điều khiển xe mô tô tăng ga bỏ chạy nên đã đâm va vào đồng chí Mai Văn V là thành viên tổ công tác làm cản trở việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, xử phạt vi phạm của tổ công tác và làm đồng chí Vĩ bị thương, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 08%.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo 17 tuổi 11 tháng 29 ngày nên là người có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 của Bộ luật Hình sự; nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Chống người thi hành công vụ, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự.
- [5] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cản trở các đồng chí Công an huyện T thực hiện nhiệm vụ kiểm tra xử lý các hành vi vi phạm về giao thông đường bộ; xâm phạm đến hoạt động bình thường, đúng đắn của cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ công; làm mất an ninh trật tự, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong nhân dân. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ.
- [6] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Do bị cáo bị kết án về tội Gây rối trật tự công cộng tại bản án hình sự sơ thẩm số 26/2024/HS-ST ngày 02-02-2024 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng khi chưa đủ 18 tuổi nên khi phạm tội Chống người thi hành công vụ bị cáo không thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 107 của Bộ luật Hình sự nhưng thể hiện bị cáo có nhân thân xấu.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có bố đẻ tham gia nghĩa vụ quan sự được tặng bằng khen nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo
5
chưa đủ 18 tuổi nên được áp dụng những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự; Điều 179 và Điều 119 của Luật Tư pháp người chưa thành niên.
- [7] Xét căn cứ quyết định hình phạt: Tại thời điểm xét xử sơ thẩm bị cáo đã đủ 18 tuổi nên căn cứ tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử bị cáo mức án nghiêm, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định mới đảm bảo giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung. Tuy nhiên, tại thời điểm phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên được áp dụng những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo ở mức giữa theo mức án mà Kiểm sát viên đã đề nghị đối với bị cáo là thỏa đáng.
- [8] Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2024/HS-ST ngày 02-02-2024 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt bị cáo 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng về tội Gây rối trật tự công cộng. Do bị cáo phạm tội Chống người thi hành công vụ trong thời gian thử thách của bản án nêu trên nên theo hướng dẫn tại khoản 1 Điều 7 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thì Hội đồng xét xử sẽ tổng hợp hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2024/HS-ST ngày 02-02-2024 nêu trên theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự; thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.
- [9] Về dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- [10] Về vật chứng: Đối với 01 xe mô tô BKS 16L7-9130 và đăng ký mô tô, xe máy mang tên Nông Quang L: Cơ quan điều tra Công an huyện T, thành phố Hải Phòng đã trả lại cho chủ sở hữu là bà Đoàn Thị T3 là đúng quy định của pháp luật.
- [11] Về vấn đề khác: Trong vụ án này, đối với hành vi của bị cáo điều khiển xe mô tô, chở người ngồi trên xe tham gia giao thông không đội mũ bảo hiểm, không có giấy phép lái xe, xe không có gương chiếu hậu; Vũ Gia H2 ngồi trên xe mô tô không đội mũ bảo hiểm, ngày 06-11-2024, Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt hành chính. Đối với hành vi bị cáo điều khiển xe mô tô đâm va vào đồng chí Mai Văn V, hậu quả tỷ lệ tổn thương cơ thể là 08%, đồng chí V không yêu cầu khởi tố nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T bàn giao hồ sơ, tài liệu cho Công an xã T xem xét xử lý là đúng quy định pháp luật.
- [12] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
- [13] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
6
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Thành H phạm tội Chống người thi hành công vụ.
- Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 330, Điều 38, Điều 56, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự; Điều 179 và Điều 119 của Luật Tư pháp người chưa thành niên.
Xử phạt: Vũ Thành H 15 (Mười lăm) tháng tù. Tổng hợp với 15 (Mười lăm) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2024/HS-ST ngày 02 tháng 02 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Buộc Vũ Thành H phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 30 (Ba mươi) tháng tù. Trừ cho bị cáo thời hạn tạm giữ, tạm giam (từ ngày 24 tháng 03 năm 2023 đến ngày 22 tháng 05 năm 2023) tại Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2024/HS-ST ngày 02 tháng 02 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 29 tháng 10 năm 2024.
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Vũ Thành H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tùng |
7
8
9
Từ nguyên tắc xử lý người dưới 18 tuổi phải bảo đảm lợi ịch tốt nhất và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, dúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội.
10
Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 10/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự (chống người thi hành công vụ)
- Số bản án: 15/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Chống người thi hành công vụ)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chống người thi hành công vụ
