TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG TỈNH THÁI BÌNH Bản án số: 15/2025/HS-ST Ngày 04-3-2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Liên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Đoàn Thị Duyên.
- Bà Bùi Thị Ngoan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Mai Duy Minh - Kiểm sát viên
Ngày 04 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2025/TLST-HS ngày 21/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST-HS ngày 17/02/2025 đối với bị cáo:
Phạm Thế M, sinh ngày 27/7/1990 tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn K, huyện K, tỉnh Thái Bình; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 11/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Phạm Thế H (đã chết) và bà Vũ Thị N; có vợ: Chế Thị Mỹ L và 01 con;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1967; nơi cư trú: Thôn H, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt
- Người đại diện theo uỷ quyền của bà T: Anh Nguyễn Đình T1, sinh năm 1974; nơi cư trú: Thôn H, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình. Có mặt
- Người làm chứng: Ông Vũ Ngọc T2, sinh năm 1965; nơi cư trú: Tổ dân phố Q, thị trấn K, huyện K, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 11/11/2024, Phạm Thế M có giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 18/6/2022, một mình điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu CUULONG, biển kiểm soát 29C - 482.33 đi trên đường C, hướng xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình đi thị trấn K, huyện K, tỉnh Thái Bình. Khi đi đến gần khu vực ngã tư, giao nhau giữa đường D, đường D và đường C thuộc địa phận tổ dân phố Q, thị trấn K, huyện K, tỉnh Thái Bình, đây là khu vực đông dân cư, có biển báo R303 (biển hiệu lệnh: Nơi giao nhau theo vòng xuyến) và hệ thống đèn giao thông đường bộ, M điều khiển xe ôtô đi trên phần đường bên phải theo chiều đi và bật xi nhan phải để đi vào ngã tư rồi tiếp tục điều khiển xe ôtô rẽ phải để đi vào đường C, hướng về huyện T. Thời điểm này có xe môtô nhãn hiệu HONDA DREAM mang biển kiểm soát 14F3 - 6002 do bà Nguyễn Thị T (bà T không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định) điều khiển đi trên đường D, hướng thành phố T đi huyện T, tỉnh Thái Bình. Bà T đã đi qua vòng xuyến, gần đến vạch nhường đường cho người đi bộ của đường C (hướng về huyện T). Do M điều khiển xe ôtô không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, không nhường đường cho xe môtô do bà T điều khiển đi đến từ bên trái của M nên dẫn đến phần bánh xe phía trước bên trái xe ô tô do M điều khiển va chạm với phần thân xe bên phải xe mô tô do bà T điều khiển, làm xe mô tô và bà T ngã đổ xuống đường, bà T tiếp tục bị bánh xe phía sau bên trái xe ôtô do M điều khiển đè lên hai chân. Hậu quả: Bà T bị thương phải đi cấp cứu và điều trị tại bệnh viện đa khoa huyện K, bệnh viện H1, bệnh viện đa khoa tỉnh T từ ngày 11/11/2024 đến ngày 27/11/2024 được xuất viện về nhà.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 650/KTTCT-TTTP ngày 12/12/2024 của Trung tâm pháp y Sở Y tế tỉnh T kết luận:
- Các kết quả chính:
- - Đường cắt tạo mỏm cụt 1/3 dưới đùi trái.
- - Đường cắt tạo mỏm cụt 1/3 giữa cẳng chân phải.
- Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể đối với Nguyễn Thị T tại thời điểm giám định là: 80% (Tám mươi phần trăm).”
Cáo trạng số 12/CT-VKSKX ngày 20/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Phạm Thế M về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Thế M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu; đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Phạm Thế M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thế M từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện K, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về bồi thường thiệt hại: Không đặt ra giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Không đặt ra giải quyết.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo đồng ý với tội danh Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình đã truy tố và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.
Người đại diện theo ủy quyền của bị hại đề nghị: Tai nạn giao thông xảy ra nằm ngoài ý muốn của con người. Khi sự việc xảy ra bị cáo đã tích cực tự nguyện bồi thường xong và cũng đến thăm hỏi động viên bà T. Vì vậy mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương, lao động sản xuất, nuôi dạy con cái.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, tỉnh Thái Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiếp hành tố tụng, người tiếp hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã xác định. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố phù hợp với lời khai của bị hại và người làm chứng. Ngoài ra còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ như: Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường vụ tai nạn giao thông; biên bản khám nghiệm phương tiện, bản ảnh phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông; kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống; bản kết luận định giá tài sản; phiếu đo nồng độ cồn đối với bị cáo cùng các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 11/11/2024, tại khu vực ngã tư, giao nhau giữa đường D, đường D và đường C thuộc địa phận tổ dân phố Q, thị trấn K, huyện K, tỉnh Thái Bình, đây là khu vực đông dân cư, có biển báo R303 (biển hiệu lệnh: Nơi giao nhau theo vòng xuyến) và hệ thống đèn giao thông đường bộ, Phạm Thế M điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu CUULONG, biển kiểm soát 29C - 482.33, do không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, không nhường đường cho xe mô tô nhãn hiệu HONDA DREAM mang biển kiểm soát 14F3 - 6002 do bà Nguyễn Thị T điều khiển đi đến từ bên trái của M dẫn đến phần bánh xe phía trước bên trái xe ô tô do M điều khiển va chạm với phần thân xe bên phải xe mô tô do bà T điều khiển, làm xe mô tô và bà T ngã đổ xuống đường, bà T tiếp tục bị bánh xe phía sau bên trái xe ô tô do M điều khiển đè lên hai chân. Hậu quả: Bà T bị tổn hại sức khoẻ do thương tích gây nên là 80%. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 2 Điều 24 Luật Giao thông đường bộ; khoản 2, khoản 3, khoản 5 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G, đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Điều 24 Luật Giao thông đường bộ: Nhường đường tại nơi đường giao nhau
2. Tại nơi đường giao nhau có báo hiệu đi theo vòng xuyến, phải nhường đường cho xe đi bên trái;
Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019: Các trường hợp phải giảm tốc độ
Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:
- Chuyển hướng xe chạy hoặc tầm nhìn bị hạn chế;
- Qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức; nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt; đường vòng; đường có địa hình quanh co, đèo dốc; đoạn đường có mặt đường hẹp, không êm thuận;
- Qua khu vực có trường học, bệnh viện, bến xe, công trình công cộng tập trung nhiều người; khu vực đông dân cư, nhà máy, công sở tập trung bên đường; khu vực đang thi công trên đường bộ; hiện trường xảy ra tai nạn giao thông
Điều 260 Bộ luật Hình sự: Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
[3] Về tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo:
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển phương tiện giao thông do không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ, không nhường đường cho xe đi từ bên trái tại nơi đường giao nhau có biển báo đi theo vòng xuyến nên đã để xảy ra tai nạn nghiêm trọng, hậu quả làm T bị tổn thương cơ thể 80%. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm các quy định của Nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ, gây tổn hại về sức khỏe cho con người. An toàn giao thông hiện nay đang là vấn đề mà Đảng và Nhà nước ta đặc biệt chú trọng, đã có nhiều chủ trương và biện pháp tích cực để hạn chế góp phần giảm thiểu các vụ tai nạn giao thông nhằm bảo vệ sức khỏe, tài sản của công dân.
[4] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:
Bị cáo có nhân thân tốt.
Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại, đại diện của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị hại là bà Nguyễn Thị T có một phần lỗi khi điều khiển xe qua nơi đường bộ giao nhau cùng mức đã không giảm tốc độ đến mức có thể dừng lại một cách an toàn vi phạm quy định tại khoản 3 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Căn cứ vào hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Cần xử phạt bị cáo với mức án như đại diện của Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là phù hợp, không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”. Xét thấy bị cáo không phải là người hành nghề lái xe nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về bồi thường thiệt hại: Ngày 03/01/2025, bị cáo đã bồi thường cho bà T và gia đình số tiền 260.000.000 đồng. Người đại diện theo ủy quyền của bà T và gia đình bà T đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu gì khác. Xét thấy sự thỏa thuận bồi thường của hai bên là tự nguyện, không trái pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về xử lý vật chứng và đồ vật, tài sản khác:
Đối với 01 xe ô tô tải nhãn hiệu CUULONG, biển kiểm soát 29C-482.33, xe đã qua sử dụng là phương tiện do Phạm Thế M điều khiển, là tài sản hợp pháp của Phạm Thế M. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã trả chiếc xe ô tô trên cho bị cáo Phạm Thế M.
Đối với 01 mô tô nhãn hiệu HONDA DREAM, biển kiểm soát 14F3-6002, xe đã qua sử dụng là tài sản hợp pháp và là phương tiện do bà T điều khiển. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã trả chiếc xe mô tô trên cho ông Nguyễn Đình T1 (người được bà T uỷ quyền).
Việc trả lại tài sản cho bị cáo và bị hại của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[8] Vấn đề khác trong vụ án: Bà Nguyễn Thị T có hành vi điều khiển xe mô tô 14F3-6002 tham gia giao thông không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định, đã vi phạm quy định tại khoản 9 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ năm 2008. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã chuyển tài liệu liên quan đến hành vi vi phạm của bà T đến Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện K xử lý theo quy định.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 590 Bộ luật Dân sự; Điều 135; Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Thế M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Thế M 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 04 tháng 3 năm 2025).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện K, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về bồi thường thiệt hại: Chấp nhận việc bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại và gia đình bị hại số tiền 260.000.000 đồng (hai trăm sáu mươi triệu đồng) vào ngày 03/01/2025. Bị hại và gia đình không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác.
- Về án phí: Bị cáo Phạm Thế M phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 04/3/2025).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| THẨM PHÁN Nguyễn Thị Liên |
Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự sơ thẩm (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
- Số bản án: 15/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thế Mạnh phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"
