|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số:15/2025/HNGĐ – ST
Ngày: 04/03/2025
V/v " Ly hôn".
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Lưu Thùy Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thận
Ông Trần Đức Hoà
- Thư ký phiên tòa: bà Huỳnh Thị Tường Vi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng: không tham gia phiên toà.
Trong ngày 04 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước; xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý thụ lý số: 175/HNGĐ-ST, ngày 29 tháng 10 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 16/2025/QÐST - HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2025; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: anh Nguyễn Minh B, sinh năm 1994
- Bị đơn: chị Hồ Thị L, sinh năm 1992
Cùng cư trú tại: thôn E, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước.
( Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên toà)
TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/10/2024 quá trình thụ lý vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Minh B trình bày: anh Nguyễn Minh B và chị Hồ Thị L tự nguyện chung sống từ năm 2016, đến năm 2017 tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam; vợ chồng chung sống đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã, chị L nói quá nhiều, với công việc làm ăn bận rộn, áp lực nhưng anh B không nhận được sự chia sẻ động viên từ vợ mà mâu thuẫn ngày càng trở nên trầm trọng, vợ chồng mất tình cảm, không khí gia đình căng thẳng, trong lúc nóng nảy vợ chồng có xảy ra xô sát, anh B có quan hệ ngoại tình sau đó đã chấm dứt nhưng vợ chồng không thể sửa đổi, không thể hàn gắn gia đình, không còn sự quan tâm, chăm sóc nhau. Hiện nay, anh B thấy không còn tình cảm với chị L, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên anh B yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng giải quyết cho anh B được ly hôn với chị L.
Về con chung: có 02 con chung là các cháu Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 13/12/2016; cháu Nguyễn Ngọc Anh T, sinh ngày 23/4/2020. Tại phiên toà anh B có nguyện vọng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Ngọc N cho đến khi cháu thành niên; chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Ngọc Anh T cho đến khi cháu thành niên, cả hai bên đều nuôi con nên không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: không có.
Về nợ chung: không yêu cầu toà án giải quyết.
Bị đơn chị Hồ Thị L trình bày: thừa nhận lời trình bày của anh B về thời gian chung sống, kết hôn anh Nguyễn Minh B và chị Hồ Thị L tự nguyện chung sống từ năm 2016, đến năm 2017 tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam; vợ chồng chung sống đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh B có quan hệ ngoại tình, không tin tưởng nhau về kinh tế từ đó vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, anh B có hành vi đánh đập chị L, đập phá đồ đạc, không lắng nghe, chia sẻ với vợ, không có sự tôn trọng vợ; tuy nhiên thương các con còn nhỏ, chị L mong muốn vợ chồng cùng sửa đổi để hàn gắn gia đình lo cho các con; trường hợp anh B cương quyết được ly hôn, chị L cũng đồng ý.
Về con chung: có 02 con chung là các cháu Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 13/12/2016; cháu Nguyễn Ngọc Anh T, sinh ngày 23/4/2020. Tại phiên toà chị L có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai cháu Nguyễn Ngọc N và cháu Nguyễn Ngọc Anh T cho đến khi các cháu thành niên, yêu cầu anh B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng, mỗi cháu là 2.000.000đ cho đến khi các cháu thành niên.
Về tài sản chung: không có.
Về nợ chung: không yêu cầu toà án giải quyết.
Về tài liệu, chứng cứ: Nguyên đơn nộp tài liệu, chứng cứ như trong hồ sơ vụ án; ngoài ra không giao nộp gì thêm. Bị đơn không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào lời khai của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của các đương sự và giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, xác định được anh Nguyễn Minh B và chị Hồ Thị L tự nguyện kết hôn năm 2017 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam phù hợp với giấy chứng nhận kết hôn đã được anh B giao nộp hợp pháp tại Tòa án. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh B và chị L là hợp pháp.
Về mâu thuẫn gia đình: Qua nội dung lời khai của anh B, chị L xác định được vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh B và chị L không có sự tin tưởng nhau về mặt tình cảm, kinh tế từ đó vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, xô sát, mất tình cảm; hiện nay anh B yêu cầu được ly hôn, phía chị L mong muốn được đoàn tụ gia đình, vợ chồng tha thứ cho nhau để cùng lo cho các con. Tuy nhiên, trong thời gian qua anh B và chị L cũng không có sự thay đổi để hàn gắn gia đình mà giữa anh B, chị L vẫn xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng không có tiếng nói chung, mất lòng tin lẫn nhau, vẫn xảy ra cãi vã, sống không có hạnh phúc, anh B cho rằng không còn tình cảm, sự yêu thương đối với chị L nên kiên quyết yêu cầu được ly hôn, chị L đồng ý ly hôn. Như vậy, có căn cứ xác định giữa anh B và chị L là có mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh B.
[2] Về con chung: anh B, chị L có 02 con chung là các cháu Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 13/12/2016; cháu Nguyễn Ngọc Anh T, sinh ngày 23/4/2020. Tại phiên toà anh B có nguyện vọng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Ngọc N cho đến khi cháu thành niên; giao chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Ngọc Anh T cho đến khi cháu thành niên, cả hai bên đều nuôi con nên không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con. Phía chị L có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai cháu Nguyễn Ngọc N và cháu Nguyễn Ngọc Anh T cho đến khi các cháu thành niên, yêu cầu anh B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng, mỗi cháu là 2.000.000đ cho đến khi các cháu thành niên. Lời khai của cháu N có nguyện vọng được chung sống với mẹ, khi ba và mẹ ly hôn. Hội thầy xét xử thấy cả hai cháu đều là con gái, để các cháu có sự phát triển tốt hơn về tâm sinh lý giới tính, sự chăm sóc của chị L cũng sẽ chu đáo, kỹ lưỡng, chi tiết hơn anh B nên cần chấp nhận yêu cầu của chị L, giao cả hai cháu Nguyễn Ngọc N và cháu Nguyễn Ngọc Anh T cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu thành niên; về mức cấp dưỡng nuôi con, với thu nhập bình quân của anh B khoảng 15.000.000đ/tháng thì với mức yêu cầu của chị L là phù hợp, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị L; anh B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng, mỗi cháu là 2.000.000đ cho đến khi các cháu thành niên.
[3] Về tài sản chung: không có.
[4] Về nợ chung: không yêu cầu toà án giải quyết.
[5] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2, khoản 4 Điều 131 của bộ Luật Tố tụng dân sự đương sự phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo luật định.
[6] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51; Điều 56, 81, 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 266 và Điều 273 bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH16 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án ngày 30/12/2016.
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, anh Nguyễn Minh B được ly hôn với chị Hồ Thị L. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 08/2017 ngày 23/02/2017 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam không có giá trị pháp lý từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
[2] Về con chung: Giao các cháu Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 13/12/2016; cháu Nguyễn Ngọc Anh T, sinh ngày 23/4/2020 cho chị Hồ Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu thành niên; anh Nguyễn Minh B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng, mỗi cháu là 2.000.000đ, thực hiện hàng tháng, từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đến khi các cháu thành niên.
Anh B có quyền thăm nom con chung, không ai có quyền ngăn cản. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con theo qui định của pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
[3] Về tài sản chung: không có.
[4] Về nợ chung: không yêu cầu toà án giải quyết
[5] Về án phí: Nguyên đơn anh Nguyễn Minh B nộp 300.000đ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con; trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp trước là 300.000đ, theo biên lai thu tiền số 0009426, ngày 29/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, người phải thi hành án không tự giác thi hành, thì phải chịu lãi suất theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả tại thời điểm phải thi hành.
[6] Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA LƯU THÙY LINH |
Bản án số 15/2025/HNGĐ – ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn
- Số bản án: 15/2025/HNGĐ – ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn giữa Nguyễn Minh Bản và Hồ Thị Lanh
