Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MÊ LINH - TP HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HS-ST

Ngày 28 tháng 02 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH – TP HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tô Thanh Phong.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Đình Khoát.

Bà Ngô Minh Thủy.

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Hạnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh - TP Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Đàm Duy Thức - Kiểm sát viên.

Ngày 27/02/2025 và 28/02/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mê Linh- Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 14/2025/TLST-HS ngày 13/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST- HS ngày 14/02/2025 đối với bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Thị H- sinh ngày 12/07/1993; Tên gọi khác: không; Nơi ĐKNKTT: thôn Đ, xã C, huyện T, tỉnh Yên Bái Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Họ tên bố: Không có; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị G năm: 1962; Chồng: Không có; Con: có 01 con sinh năm: 2016; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/12/2024 đến ngày 27/12/2024 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất nhập cảnh”.

(Có mặt tại phiên toà)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Lường Thị M6, sinh năm 1994 (0386042833)

    HKTT: Bản Hán, xã P, thị xã N, tỉnh Yên Bái .

    (Vắng mặt tại phiên toà)

  2. A năm 1988.

HKTT: thôn X, xã L, huyện M, Hà Nội (0974750488).

(Vắng mặt tại phiên toà)

  1. Anh Đặng Văn D năm 1970.

HKTT: Thôn T, xã V, huyện M, Hà Nội (0961116570)

(Vắng mặt tại phiên toà)

* Người chứng kiến: Ngô Văn V, sinh năm 1962. Địa chỉ tổ dân phố số D, thị trấn Q, huyện M, Hà Nội.

(Vắng mặt tại phiên toà)

* Người làm chứng: Trần Văn Đ sinh năm 1969. Địa chỉ tổ dân phố số D, thị trấn Q, huyện M, Hà Nội.

(Vắng mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30' ngày 19/12/2024, Đội cảnh sát ĐTTP về hình sự, kinh tế và ma túy Công an huyện M với Công an thị trấn Qtiến hành kiểm tra hành chính tại Nhà trọ Đ1 ở tổ D, trấn Q, huyện M bắt quả tang tại phòng 202 và 301 có 02 đôi nam, nữ là Nguyễn Thị H (sinh năm 1993, HKTT: thôn Đ, xã C, huyện T, tỉnh Yên Báiđang có hành vi quan hệ tình dục với Nguyễn Hữu M(sinh năm 1988, HKTT: thôn X, xã L, huyện M, thành phố H Lường Thị M6(sinh năm 1994, HKTT: thôn Đ, N, thị xã N, tỉnh Yên Bái đang có hành vi quan hệ tình dục với Đặng Văn D1(sinh năm 1970, HKTT: thôn T, xã V, huyện M, thành phố Hà Nội

Quá tình điều tra, xác minh H1 nhận: Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 19/12/2024, Nguyễn Thị H2 ở phòng trọ tại tổ D, thị trấn Q, huyện M, thành phố H có Nguyễn Hữu M(là người quen biết ngoài xã hội với Hrủ Hđi uống nước, H3 ý. Cả hai cùng đến quán nước tại tổ D, thị trấn Q, huyện M nước. Trong lúc ngồi uống nước có Đặng Văn D2 người làm thuê cho Mlcũng đến ngồi uống nước cùng Hvà M1Tại đây, H4 cho Mlbiết việc H5 nhu cầu bán dâm để lấy tiền tiêu xài nên M1nảy sinh việc mua dâm HHnói giá mua dâm là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng), M1đồng ý. Thấy mạnh nói vậy nên D3 nảy sinh việc mua dâm. Dbảo H6 có gái bán dâm nào để mua dâm, H4 vơi Duyệt giá mua dâm là 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) và phải trả thêm tiền công cho HDđồng ý. Thỏa thuận xong, M1trả cho Hằng số tiền 500.000 đồng tiền mua dâm Hcòn Dtrả cho

H700.000 đồng (trong đó: 500.000 đồng là tiền mua dâm còn 200.000 đồng là tiền công môi giới bán dâm cho DLúc này, Hbảo M1và Dđến nhà trọ Đ1 ở tổ D, thị trấn Q, huyện M. M1và Dđi bộ đến nhà trọ Đ1thuê 02 phòng nghỉ, còn H7 về phòng trọ của Lường Thị M1 tổ D, thị trấn Q, huyện M, H gặp MHbảo Mđi bán dâm cho khách với giá bán dâm là 500.000 đồng, M2 ý và H8 cho M500.000 đồng tiền bán dâm, xong cả hai đi bộ đến nhà trọ Đđể gặp M1và DKhi đến nhà trọ Đ1của anh Trần Văn Đ(sinh năm 1969, HKTT: tổ D, thị trấn Q, huyện M, H9 NộiTại đây, M1đã thuê 02 phòng nghỉ nên Đđã bố trí phòng 202 tầng 2 cho H11 M1còn phòng 301 tầng 3 cho Dvà M, tại Phòng 202 Mvà Hđã quan hệ tình dục còn tại phòng 301 Duyệt và M3 quan hệ tình dục. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi M1và Hđang mua bán dâm tại phòng 202 tầng 2; Dvà Mđang mua bán dâm tại phòng 301 tầng 3 của nhà trọ Đ1 bị Đội Cảnh sát ĐTTP về hình sự, kinh tế và ma tuý phối hợp với Công an thị trấn Q kiểm tra hành chính phát hiện bắt quả tang và thu giữ số vật chứng và đưa về trụ sở để làm việc.

Tại cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện M các đối tượng mua, bán dâm đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên; bị can H10 tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

* Vật chứng thu giữ gồm: Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng, đồ vật, tài sản liên quan gồm:

  • - Thu giữ tại phòng 202 Tầng B nhà T
    • + Tạm giữ: Số tiền 700.000₫ (Bảy trăm nghìn đồng) của Nguyễn Thị H
    • + Tạm giữ: Số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) của Nguyễn Hữu M
    • + Tạm giữ: 01 chiếc vỏ bao cao su và 01 chiếc bao cao su (đã qua sử dụng)
  • - Thu giữ tại phòng 301 Tầng C nhà T
    • + Tạm giữ: Số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) của Lường Thị M6
    • + Tạm giữ: 01 chiếc vỏ bao cao su và 01 chiếc bao cao su (đã qua sử dụng)

Toàn bộ số vật chứng được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mê Linh để xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với Lường Thị M4 gái bán dâm; Nguyễn Hữu M1và Đặng Văn D2 các đối tượng mua dâm, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện M Quyết định xử phạt hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 24, Điều 25 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

Đối với chủ cơ sở kinh doanh nhà trọ là Trần Văn Đ(sinh năm: 1969 ở tổ D, thị trấn Q, huyện M, thành phố H cơ sở kinh doanh nhà trọ đã để xảy ra hoạt động mua bán dâm tại phòng 202 và 301 của nhà trọ Đ1Quá trình điều tra, xác minh xác định: khi kiểm tra hành chính cơ sở kinh doanh có sổ theo dõi, có giấy phép kinh doanh. Khi HMvà M1Dđến nhà trọ Đ3 thuê phòng sau đó thực hiện hành vi

mua bán dâm, anh Đ2 biết cũng không được hưởng lợi gì từ việc các đối tượng sử dụng phòng thuê để thực hiện hành vi mua bán dâm nên không có căn cứ để xử lý theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Tại bản cáo trạng số: 15/CT-VKS ngày 11/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo về tội: “Môi giới mại dâm”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thấy rằng: Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Môi giới mại dâm”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt vì tại phiên tòa bị cáo thành khẩn, ăn năn, hối cải. Gia đình bị cáo hoàn cảnh khó khăn. Bị cáo nhận thức pháp luật còn hạn chế.

* Về tội danh và hình phạt:

  1. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại: Khoản 1 Điều 328; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo:

Đề nghị xử phạt: Mức án từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù về tội “Môi giới mại dâm”.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

* Về dân sự và xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015. Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

  • - Về trách nhiệm dân sự: Không có nên không xét.
  • - Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 chiếc vỏ bao cao su và 02 chiếc bao cao su (đã qua sử dụng); Đề nghị trả lại 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) cho Nguyễn Hữu M5 thu sung ngân sách nhà nước 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng) thu giữ của Nguyễn Thị Hvà Lường Thị M6

* Về án phí:

Người tham gia tố tụng phải chịu án phí theo qui định pháp luật.

* Về quyền kháng cáo:

Người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo qui định pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] - Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người tham gia tố tụng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh -thành phố Hà Nội đã truy tố.

HĐXX có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 13 giờ 30' ngày 19/12/2024, tại nhà trọ Đ1 ở tổ D thị trấn Q, huyện M, thành phố H đã có hành vi môi giới cho Lường Thị M6 bán dâm cho Đặng Văn D4 lợi bất chính. Khi các đối tượng đang quan hệ tình dục thì bị Đội Cảnh sát ĐTTP về hình sự, kinh tế và ma tuý phối hợp với Công an thị trấn Q phát hiện bắt quả tang.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh- thành phố Hà Nội đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo về tội: Môi giới mại dâm. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Hành vi của bị cáo gây tâm lý lo lắng cho quần chúng nhân dân. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trật tự trị an xã hội. Do đó cần thiết phải áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo bị cáo và để giúp bị cáo sống lành mạnh, lao động có ích cho xã hội.

[3] Xét nhân thân bị cáo: Không tiền án; Không tiền sự.

[4] Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa:

  • - Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Không có.
  • - Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
    • + Bị cáo thành khẩn khai báo.
    • + Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
    • + Gia đình bị cáo hoàn cảnh khó khăn (mẹ già, con nhỏ)
    • + Bị cáo hứa sửa chữa, không vi phạm pháp luật nữa.

Nên xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: theo điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đối với bị cáo cần phải áp dụng hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội để đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Xét theo qui định pháp luật, áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.

Xét không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

[5] Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng mức hình phạt tù giam đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp với pháp luật.

[6] Về dân sự và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015. Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

  • - Về trách nhiệm dân sự: Không có nên xét.
  • - Về xử lý vật chứng: Xét nên tịch thu tiêu hủy 02 chiếc vỏ bao cao su và 02 chiếc bao cao su (đã qua sử dụng); Trả lại 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) cho Nguyễn Hữu M5 thu sung ngân sách nhà nước 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng) thu giữ của Nguyễn Thị H11 Lường Thị M6

[7] Các vấn đề khác: Đối với Lường Thị M4 gái bán dâm; Nguyễn Hữu M1và Đặng Văn D2 các đối tượng mua dâm, cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện M Quyết định xử phạt hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 24, Điều 25 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.

Đối với chủ cơ sở kinh doanh nhà trọ là Trần Văn Đ(sinh năm: 1969 ở tổ D, thị trấn Q, huyện M, thành phố H cơ sở kinh doanh nhà trọ đã để xảy ra hoạt động mua bán dâm tại phòng 202 và 301 của nhà trọ Đ1Quá trình điều tra, xác minh xác định: khi kiểm tra hành chính cơ sở kinh doanh có sổ theo dõi, có giấy phép kinh doanh. Khi HMvà M1Dđến nhà trọ Đ3 thuê phòng sau đó thực hiện hành vi mua bán dâm, anh Đ2 biết cũng không được hưởng lợi gì từ việc các đối tượng sử dụng phòng thuê để thực hiện hành vi mua bán dâm nên không có căn cứ để xử lý theo quy định pháp luật.

Hội đồng xét xử không xét.

[8] Về án phí: Người tham gia tố tụng phải chịu án phí theo qui định pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[10] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra huyện M - thành phố Hà Nội, Điều tra viên huyện M, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê

Linh- thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên huyện M quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo, người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  • * Áp dụng: Khoản 1 Điều 328; điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

  • * Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Thị H phạm tội “Môi giới mại dâm. ”

  • * Xử phạt: Nguyễn Thị H 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được trừ hạn tạm giữ từ ngày 19/12/2024 đến ngày 27/12/2024.

  • Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  • * Về dân sự và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015. Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

    • - Về trách nhiệm dân sự: Không có nên không xét.
    • - Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 chiếc vỏ bao cao su và 02 chiếc bao cao su (đã qua sử dụng); Trả lại 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) cho Nguyễn Hữu M5 thu sung ngân sách nhà nước 1.200.000đ (Một triệu hai trăm nghìn đồng) thu giữ của Nguyễn Thị Hvà Lường Thị M6

    (Biên bản giao, nhận vật chứng số 55 ngày 11/02/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mê Linh

  • * Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 136; 331; 333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội.

    Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Công an ND huyện Mê Linh
  • - Viện kiểm sát NDhuyện Mê Linh
  • - Viện kiểm sát NDTPHN
  • - Sở tư pháp HΝ
  • - Trại giam HN
  • - Thi hành án dân sự huyện Mê Linh
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Ủy ban ND cấp xã nơi bị cáo cư trú
  • - Lu hồ sơ vụ án;
  • - Lu VP;
  • - Bị cáo, Ngời tham gia tố tụng

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tô Thanh Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - TP HÀ NỘI về môi giới mại dâm

  • Số bản án: 15/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Môi giới mại dâm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - TP HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Hằng có hành vi môi giới mại dâm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger