Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ HƯƠNG THỦY

THÀNH PHỐ HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HS-ST

Ngày: 26/02/2025

 

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, THÀNH PHỐ HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Châu.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Cường và bà Cái Thị Duyên.

Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thùy Dương, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, thành phố Huế.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy tham gia phiên tòa: Ông Trần Vũ Duy Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Hương Thủy, thành phố H - số F Đ, phường P, thị xã H, thành phố H, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025, đối với:

Bị cáo Đinh Quang K; tên gọi khác: Không; sinh ngày 07 tháng 5 năm 1999 tại thành phố H; nơi cư trú: Tổ dân phố M, phường D, quận T, thành phố H; số CCCD: [...]; nghề nghiệp: Sửa xe; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh P và bà Phan Thị X (chết); vợ: Trần Thị Phương C; con: có 02 con, lớn sinh năm 2022, nhỏ sinh năm 2024;

Tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 07/11/2024 cho đến nay, có mặt.

- Bị hại:

  • + Hợp tác xã N; địa chỉ: Thôn T, xã T, thị xã H, thành phố H. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Quang H, sinh năm 1958; chức vụ: Giám đốc, có mặt.
  • + Hợp tác xã N1; địa chỉ: Tổ B, phường T, thị xã H, thành phố H. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Minh C1, chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Duy D, sinh năm 1966; chức vụ: Phó giám đốc; địa chỉ: Số A đường V, Tổ E, phường T, thị xã H, thành phố H,

có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • + Bà Phạm Thị T, sinh năm 1973; địa chỉ: Tổ A, phường T, thị xã H, thành phố H, có mặt.
  • + Chị Trần Thị Phương C, sinh năm 1999; địa chỉ: Tổ dân phố M, phường D, quận T, thành phố H, có mặt.
  • + Ông Đinh P, sinh năm 1970; địa chỉ: Tổ dân phố M, phường D, quận T, thành phố H, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ ngày 08/10/2024 đến ngày 21/10/2024, Đinh Quang K đã 03 lần đột nhập vào các trạm bơm nước của nhiều Hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H), để trộm cắp tài sản là dây điện, sau đó tách lấy phần dây đồng bán kiếm tiền tiêu xài, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng 19 giờ ngày 08/10/2024, Đinh Quang K điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 75G1-273.05 (xe của chị Trần Thị Phương C, sinh năm 1999, trú tại tổ E, phường T, thị xã H là vợ của K) mang theo 01 cái máy “mơn” (loại cầm tay, gắn pin, hiệu Ailen) đến trạm bơm nước làng H, thuộc tổ F, phường T, thị xã H, do Hợp tác xã N1 quản lý để cắt trộm dây điện. K sử dụng máy “mơn” cắt khóa cửa trạm bơm, đột nhập vào bên trong, đến tủ điện cắt 03 sợi dây điện loại: (Cadivi CXV 3 x 25 + 1 x 16) có vỏ bọc màu đen bằng cao su, đường kính 02 cen ti mét (cm), bên trong có 04 lõi dây đồng, có tổng chiều dài 15,72 mét (các dây điện này được nối từ tủ điện đến máy bơm nước) rồi cuộn các dây điện này lại đưa ra xe mô tô chở về cất giấu ở phía sau nhà thuê trọ, địa chỉ: tổ E, phường T, thị xã H. Đến sáng ngày 09/10/2024, K dùng máy “mơn” và dao rọc giấy cắt, tách phần vỏ dây điện ra để phía sau nhà còn phần lõi đồng K mang đến tiệm phế liệu của chị Phạm Thị T, sinh năm 1973, trú tại tổ A, phường T, thị xã H bán với giá 1.800.000 đồng.

Vụ thứ hai: Vào khoảng 17 giờ ngày 18/10/2024, Đinh Quang K điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 75G1-273.05, mang theo một máy “mơn” cầm tay đến trạm bơm nước T, thuộc thôn T, xã T, thị xã H, do Hợp tác xã N Tân quản lý để trộm cắp dây điện. K dùng máy “mơn” cắt khóa cửa trạm bơm, đột nhập vào bên trong, đến tủ điện cắt 04 sợi dây điện loại: (M4 x 50), có vỏ bọc màu đen, đường kính 05 cm, bên trong có 04 lõi dây đồng, có tổng chiều dài 40,93 mét (các dây này được nối từ tủ điện đến các máy bơm nước), rồi cuộn các dây điện này lại đưa ra xe mô tô chở về cất giấu ở phía sau nhà thuê trọ. Đến sáng ngày 19/10/2024, K lại dùng máy “mơn” và dao rọc giấy cắt, tách phần vỏ dây điện ra

để phía sau nhà còn phần lõi đồng K mang đến tiệm phế liệu của chị Phạm Thị T bán với giá 3.000.000 đồng.

Vụ thứ ba: Khoảng 17 giờ ngày 21/10/2024, Đinh Quang K tiếp tục điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 75G1-273.05 và mang theo một máy “mơn” cầm tay đến trạm bơm nước Thủy T1, sử dụng máy “mơn” cắt khóa cửa trạm bơm, đột nhập vào bên trong, đến tủ pin cắt 04 sợi dây điện loại: (C x 25 + 1 x 16) có vỏ bọc màu đen bằng cao su, đường kính 02 cm, bên trong có 04 lõi dây đồng có tổng chiều dài 9,53 mét (các dây này được nối từ tủ điện sang tủ pin), rồi cuộn các dây điện này lại mang ra xe mô tô. Sau đó, K tiếp tục điều khiển xe mang theo máy “mơn” đến trạm bơm Ô, thuộc thôn T, xã T, thị xã H để trộm cắp dây điện. K sử dụng máy “mơn” cắt khóa cửa trạm bơm, đột nhập vào bên trong, đến tủ điện cắt 02 sợi dây điện loại: (M3 x 35 + 1 x 16) có vỏ bọc màu đen bằng cao su, đường kính 02 cm, bên trong có 04 lõi dây đồng có tổng chiều dài 5,9 mét (các dây này được nối từ tủ điện đến các máy bơm nước) rồi cuộn các dây điện này lại mang ra xe mô tô chở về cất giấu sau nhà thuê trọ. Đến sáng ngày 22/10/2024, K dùng máy mơn và dao rọc giấy cắt, tách phần vỏ dây điện ra để phía sau nhà còn phần lõi đồng K mang đến tiệm phế liệu của chị Phạm Thị T bán với giá 1.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, Đinh Quang K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Vật chứng thu giữ gồm:

- Tạm giữ tại hiện trường do ông Nguyễn Quang H - Giám đốc Hợp tác xã nông nghiệp Thủy T1 giao nộp gồm:

  • + 01 (một) ổ khóa màu đen, kích thước 7,5 cm x 4,5 cm, mặt trước có chữ “V – Tiệp”, mặt sau có chữ “Lock” phần quai khóa màu bạc bị mất một đoạn dài 1,5 cm.
  • + 01 (một) ổ khóa màu đen, có rỉ sắt màu vàng, kích thước 08 cm x 4,5 cm, mặt trước có chữ “V – Tiệp”, mặt sau có chữ “Lock” phần quai khóa màu bạc bị mất một đoạn dài 1,5 cm.
  • + 01 (một) ổ khóa màu đen, kích thước: 09 cm x 05 cm, mặt trước có chữ “V – Tiệp”, mặt sau có chữ “Lock” phần quai khóa màu bạc bị mất một đoạn dài 1,5 cm.
  • + 01 (một) chuôi dây điện có ký hiệu SC35, một đầu nối với dây đồng được bọc băng keo đen xung quanh, kích thước dài 11,5 cm.
  • + 04 (bốn) chuôi dây điện có ký hiệu KL050-10, một đầu nối với dây đồng được bọc băng keo đen xung quanh, kích thước dài 8,5 cm.
  • + 05 (năm) chuôi dây điện có ký hiệu SC25-8, một đầu nối với dây đồng được bọc băng keo đen xung quanh, kích thước dài 7,5 cm.
  • + 10 (mười) chuôi dây điện, một đầu có màu bạc, một đầu nối với dây đồng bọc băng keo đen xung quanh.

- Tạm giữ của Đinh Quang K:

  • + Tiền Ngân hàng N2, số tiền 5.350.000 đồng.
  • + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đỏ, mang biển kiểm soát 75G1-273.05
  • + 01 (một) máy mơn cầm tay loại gắn pin, hiệu Ailen + 01 (một) dao cắt giấy có cán nhựa màu vàng.
  • + 24 (hai mươi bốn) đoạn vỏ dây diện bằng cao su, màu đen loại M4 x 50, đường kính 05 cm, gồm 04 lõi đồng.
  • + 03 (ba) đoạn vỏ dây điện bằng cao su, màu đen loại M3 x 35, đường kính 02cm, gồm 04 lõi đồng.
  • + 16 (mười sáu) đoạn vỏ dây diện bằng cao su, màu đen loại Cadivi CXV 3 x 25, đường kính 02 cm, gồm 04 lõi đồng.
  • - Chị Phan Thị T2 giao nộp 05 Ki lô gam dây kim loại đồng có màu đỏ cam.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 75/KL-HĐĐGTS ngày 28/10/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân thị xã H, kết luận:

  • - 12,05 mét dây điện loại M4 x 50 có vỏ bọc màu đen, đường kính 5 cm, bên trong có 04 lõi dây làm bằng kim loại đồng được mua và sử dụng năm 2019. Tỷ lệ còn lại 50%. Trị giá là 4.338.000 đồng.
  • - 28,88 mét dây điện loại M4 x 50 có vỏ bọc màu đen, đường kính 5 cm, bên trong có 04 lõi dây làm bằng kim loại đồng được mua và sử dụng năm 1995. Không khấu hao. Trị giá là 8.664.000 đồng.

Giá trị định giá là: 13.002.000 đồng (Mười ba triệu không trăm lẻ hai nghìn đồng).

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 76/KL-HĐĐGTS ngày 30/10/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân thị xã H, kết luận:

  • - 9,53 mét dây điện loại Cadivi CXV 3 x 25 + 1 x 16, có vỏ bọc màu đen bằng cao su, đường kính 2 cm, bên trong có 04 lõi dây làm bằng kim loại đồng. Mua và sử dụng năm 1995. Không khấu hao. Trị giá là 1.906.000 đồng.
  • - 5,9 mét dây điện loại M3 x 35 + 1 x 16 có vỏ bọc màu đen bằng cao su, đường kính 2 cm, bên trong có 04 lõi dây làm bằng kim loại đồng. Mua và sử dụng năm 1995. Không khấu hao. Trị giá là 1.180.000 đồng.

Giá trị định giá là: 3.086.000 đồng (Ba triệu không trăm tám mươi sáu nghìn đồng).

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 77/KL-HĐĐGTS ngày 04/11/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân thị xã H, kết luận: 15,72 mét dây điện loại: (C x 25 + 1 x 16), có vỏ bọc màu đen bằng cao su, đường kính 2 cm, bên trong có 04 lõi dây làm bằng kim loại đồng. Mua và sử dụng vào năm 2022. Tỷ lệ còn lại 80%. Trị giá là 5.030.400 đồng (Năm triệu không trăm ba mươi nghìn bốn trăm đồng).

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 83/KL-HĐĐGTS ngày 14/11/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân thị xã H, kết luận:

  • - 01 (một) ổ khóa hiệu Việt Tiệp đã qua sử dụng. Bị hư hỏng không còn sử dụng được. Trị giá là 20.000 đồng.
  • - 01 (một) ổ khóa màu đen, kích thước 7,5 x 4,5 cen ti mét, mặt trước có chữ “Việt Tiệp”, mặt sau có chữ “Lock” đã qua sử dụng. Bị hư hỏng không còn sử dụng được. Trị giá là 30.000 đồng.
  • - 01 (một) ổ khóa màu đen, kích thước 8 x 4,5 cen ti mét, mặt trước có chữ “Việt Tiệp”, mặt sau có chữ “Lock” đã qua sử dụng. Bị hư hỏng không còn sử dụng được. Trị giá là 35.000 đồng.
  • - 01 (một) ổ khóa màu đen, kích thước 9 x 4,5 cen ti mét, mặt trước có chữ “Việt Tiệp”, mặt sau có chữ “Lock” đã qua sử dụng. Bị hư hỏng không còn sử dụng được. Trị giá là 40.000 đồng.

Giá trị định giá là: 125.000 đồng (Một trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

Về xử lý vật chứng:

  • - Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là Hợp tác xã nông nghiệp Thủy P1 và T2 Tân toàn bộ vật chứng đã tạm giữ theo quy định pháp luật.
  • - Các vật chứng còn lại gồm: 01 xe mô tô biển kiểm soát: 75G1-273.05; 01 máy “mơn” cầm tay loại gắn pin, hiệu Ailen; 01 dao rọc giấy có cán nhựa màu vàng và Tiền Ngân hàng N2, số tiền 5.350.000 đồng, được chuyển cho Cơ quan Thi hành án dân sự thị xã H để đảm bảo cho việc xét xử và thi hành án .

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho Hợp tác xã N1 số tiền theo yêu cầu là 9.000.000 đồng, Hợp tác xã N T1 số tiền theo yêu cầu là 38.160.000 đồng; Hiện các người đại diện cho bị hại và người liên quan không có yêu cầu gì thêm, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đối với hành vi hủy hoại tài sản (cắt, phá các ổ khóa tại các trạm bơm) của bị cáo: Do giá trị tài sản bị hủy hoại dưới 2.000.000 đồng và không thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm đ khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự nên Cơ quan điều tra chuyển hồ sơ để xử lý hành chính theo quy định pháp luật.

Đối với chị Trần Thị Phương C không biết việc bị cáo Đinh Quang K sử dụng xe mô tô biển kiểm soát 75G1-273.05 của mình để làm phương tiện phạm tội nên không xử lý.

Đối với chị Phạm Thị T, không biết các dây đồng mà chị đã mua của bị cáo Đinh Quang K là tài sản do phạm tội mà có nên không xử lý.

Tại bản cáo trạng số 11/CT-VKSHTh ngày 13/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, thành phố H đã truy tố bị cáo Đinh Quang K về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm theo bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đinh Quang K phạm tội: “Trộm cắp tài sản”; đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Đinh Quang K từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án theo quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tịch thu tiêu hủy các công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội không có giá trị sử dụng: 01 dao cắt giấy có cán nhựa màu vàng.
  • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước các công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội: 01 máy mơn cầm tay loại gắn pin nhãn hiệu Ailen.
  • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 5.350.000 đồng, do bị cáo bán lõi đồng trộm cắp được mà có.
  • - Trả lại cho chị Trần Thị Phương C 01 xe mô tô mang biển kiểm soát 75G1-273.05, nhãn hiệu Honda, Wave, màu đỏ do chị C không biết việc bị cáo K sử dụng xe của mình để làm phương tiện phạm tội.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Các bị hại đã nhận tiền bồi thường thiệt hại theo yêu cầu, không có yêu cầu gì thêm và có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[2] Đã có cơ sở kết luận: Vào các ngày 08/10/2024, 18/10/2024 và 21/10/2024, tại trạm bơm nước làng H, thuộc tổ F, phường T, do Hợp tác Xã N1 quản lý; trạm bơm nước Thủy T1 thuộc thôn T và trạm bơm nước Ô, thuộc thôn T, xã T, thị xã H, do Hợp tác xã N Tân quản lý; Đinh Quang K đã 03 (ba) lần lợi dụng sơ hở, lén lút đột nhập vào các trạm bơm nước trên để trộm cắp tài sản là dây điện, sau đó đưa về nhà tách, lấy phần lõi đồng bán kiếm tiền tiêu xài. Tổng trị giá tài sản mà Đinh Quang K đã chiếm đoạt là 21.118.400 đồng (Hai mươi mốt triệu một trăm mười tám nghìn bốn trăm đồng). Trong đó, lần 1 là 5.030.400 đồng; lần 2 là 13.002.000 đồng và lần 3 là 3.086.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy đã truy tố bị cáo theo bản cáo trạng số 11/CT-VKSHTh ngày 13/01/2025 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo K là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì lòng tham nên bị cáo vẫn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của các bị hại với tổng giá trị là 21.118.400 đồng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

[4] Xét đặc điểm nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự thấy rằng:

Bị cáo Đinh Quang K có nhân thân tốt. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên”, được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Do đó cần xử phạt nghiêm bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tác dụng răn đe và giáo dục bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo K không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho Hợp tác xã N1 số tiền theo yêu cầu là 9.000.000 đồng, Hợp tác xã N T1 số tiền theo yêu cầu là 38.160.000 đồng; Hiện các người đại diện cho bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu hủy các công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội không có giá trị sử dụng: 01 dao cắt giấy có cán nhựa màu vàng.
  • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước các công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội: 01 máy mơn cầm tay loại gắn pin nhãn hiệu Ailen.
  • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 5.350.000 đồng, tiền ngân hàng N2, đã được niêm phong trong 01 bì thư, trên bì thư có chữ ký họ tên: Trần Lê H1, Đinh Quang K, 01 dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT – C2, đây là số tiền do bị cáo bán lõi đồng trộm cắp được mà có.
  • - Trả lại cho chị Trần Thị Phương C 01 xe mô tô mang BKS: 75G1-273.05, nhãn hiệu Honda, Wave, màu đỏ, số máy: 3811GY043077, số khung: JA38E0100376, đã qua sử dụng do chị C không biết việc bị cáo K sử dụng xe của mình (là tài sản riêng của chị C có trước khi kết hôn) để làm phương tiện phạm tội.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Quang K phạm tội: “Trộm cắp tài sản".

2. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đinh Quang K 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam là ngày 07/11/2024.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên xử:

  • - Tịch thu tiêu hủy các công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội không có giá trị sử dụng: 01 dao cắt giấy có cán nhựa màu vàng.
  • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước các công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội: 01 máy mơn cầm tay loại gắn pin nhãn hiệu Ailen.
  • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 5.350.000 đồng, tiền ngân hàng N2, đã được niêm phong trong 01 bì thư, trên bì thư có chữ ký họ tên: Trần Lê H1, Đinh Quang K, 01 dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT – C2.
  • - Trả lại cho chị Trần Thị Phương C 01 xe mô tô mang BKS: 75G1-273.05, nhãn hiệu Honda, Wave, màu đỏ, số máy: 3811GY043077, số khung: JA38E0100376, đã qua sử dụng.

(Vật chứng trên có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Thuỷ).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Đinh Quang K phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Huế
  • - VKSND thành phố Huế;
  • - VKSND thị xã Hương Thủy;
  • - Cơ quan CSĐT CA thị xã Hương Thủy;
  • - Cơ quan THAHS CA thị xã Hương Thủy;
  • - Chi cục THADS thị xã Hương Thủy;
  • - Cơ sở giam giữ bị cáo;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại; NCQLNVLQ;
  • - Lưu HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Quỳnh Châu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, THÀNH PHỐ HUẾ về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 15/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đinh Quang K "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger