Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LẠNG SƠN

TỈNH LẠNG SƠN

Bản án số 15/2025/HS-ST

Ngày 26-02-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Xuân Tĩnh

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Phạm Thị Hòa;
  • 2. Bà Dương Thị Thu Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lành Thị Thanh Nụ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Dương Thu Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 15/2025/HSST ngày 07 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Linh Văn T (tên gọi khác: Không có), sinh ngày 03-11-1980 tại huyện C, tỉnh Lạng Sơn; Căn cước công dân số [...], cấp ngày 21-9-2022. Nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã X, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 2/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Linh Văn H (đã chết) và bà Hoàng Thị C, sinh năm 1939; vợ là Hoàng Thị B, sinh năm 1982; con: Có 04 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt hành chính và xử lý kỷ luật. Bị tạm giữ ngày 05-12-2024, chuyển tạm giam ngày 08-12-2024 đến nay, hiện tạm giam tại Nhà Tạm giữ công an thành phố L; có mặt.

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Vân K, sinh năm 1979. Địa chỉ: Số A, phố Đ, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 05-12-2024 bà Nguyễn Thị Vân K đến Công an thành phố L trình báo về việc vào khoảng 11 giờ ngày 05-12-2024 tại trước cửa nhà thuốc H1, số E đường T, phường H, thành phố L bà bị mất trộm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13, màu trắng bà để ở cốp phụ bên trái dưới tay lái của xe mô tô biển kiểm soát 29A - 192.38. Quá trình tiếp nhận tin báo về tội phạm, vào khoảng 17 giờ ngày 05-12-2024 bị cáo Linh Văn T đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L đầu thú và khai nhận, khoảng 07 giờ ngày 05-12-2024 bị cáo Linh Văn T đi từ nhà thôn N, xã X, huyện C ra thành phố L để đi chơi Hội chợ thương mại tỉnh Lạng Sơn tại số B đường T, thành phố L. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày sau khi chơi hội, Linh Văn T đi bộ khi đến nhà số E đường T, phường H, Linh Văn T phát hiện thấy có một chiếc điện thoại di dộng hiệu Iphone 13, màu trắng, lắp ốp lưng bằng nhựa dẻo màu đỏ của bà Nguyễn Thị Vân K để ở cốp phụ xe mô tô biến kiểm soát 29A - 192.38; quan sát thấy không có ai Linh Văn T đi về phía xe mô tô lấy chiếc điện thoại này cho vào túi quần bên trái đang mặc. Sau khi lấy trộm được chiếc điện thoại Linh Văn T đi về nhà và mở khóa điện thoại, nhưng không được. Đến khoảng 17 giờ cùng này Linh Văn T đến Công an thành phố đầu thú và khai nhận hành vi trộm cắp và giao nộp chiếc điện thoại di động đã chiếm đoạt như nêu trên.

Tại kết luận định giá tài sản tố tụng hình sự số 95/KL-HĐĐGTS ngày 06-12-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L xác định: 01 điện thoại Iphone 13 màu trắng, trị giá 10.613.000 đồng; 01 lắp ốp lưng điện thoại bằng nhựa dẻo màu đỏ đã qua sử dụng, không có giá trị.

Tại bản Cáo trạng số 23/CT-VKS, ngày 07-02-2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Linh Văn T về tội Trộm cắp tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Về vật chứng: Đối với chiếc điện thoại bị cáo trộm cắp, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu bà Nguyễn Thị Vân K; hiện không còn thu giữ vật chứng gì.

Tại phiên tòa, bị cáo Linh Văn T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.

Tại phiên tòa bị hại bà Nguyễn Thị Vân K vắng mặt, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, lời trình bày tại cơ quan điều tra thể hiện. Bà Nguyễn Thị Vân K đã nhận lại được chiếc điện thoại di động bị mất, nên không yêu cầu bồi thường và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Linh Văn T.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn luận tội xác định đủ căn cứ kết luận bị cáo có hành vi trộm cắp tài sản là chiếc điện thoại di động, có trị giá 10.613.000 đồng. Nên giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội Trộm cắp tài sản; về tình tiết giảm nhẹ bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và đầu thú về hành vi phạm tội, bị cáo thuộc gia đình hộ nghèo; bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo từ 08 đến 10 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về phần dân sự bị hại không yêu cầu nên không xem xét; bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo và đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận; lời nói sau cùng bị cáo Linh Văn T đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội cải tạo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự, các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Bị cáo, bị hại, đương sự khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

[2] Về tố tụng, tại phiên tòa vắng mặt bị hại, nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt và có lời khai trong hồ sơ, việc xét xử vắng mặt không ảnh hưởng đến nội dung vụ án, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt là có căn cứ.

[3] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản đầu thú, lời khai của bị hại và Kết luận định giá tài sản, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ căn cứ xác định vào khoảng 11 giờ ngày 05-12-2024 tại trước cửa nhà thuốc H1, số E đường T, phường H, thành phố L bị cáo Linh Văn T có hành vi trộm cắp một chiếc điện thoại di dộng hiệu Iphone 13 trị giá 10.613.000 đồng của bà Nguyễn Thị Vân K. Nên đủ căn cứ xác định bị cáo Linh Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản, theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, cụ thể người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, nên Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đủ năng lực hành vi và tuổi chịu trách nhiệm hình sự; nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự của địa phương, xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ.

[5] Xét về nhân thân; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, thuộc gia dình hộ nghèo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; về tình tiết giảm nhẹ bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đầu thú về hành vi phạm tội và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự.

[6] Từ những nhận định trên, thấy cần xử phạt tù giam với mức hình phạt phù hợp đủ để bị cáo cải tạo sau này trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa chung tội phạm. Tuy nhiên, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, an tâm cải tạo thành công dân tốt sớm trở về với gia đình, xã hội.

[7] Về hình phạt bổ sung là phạt tiền, xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng để bảo đảm việc thi hành án, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về dân sự: Bị hại hại bà Nguyễn Thị Vân K đã nhận lại được chiếc điện thoại di động bị mất, nay không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về vật chứng vụ án, hiện không thu giữ vật chứng gì của vụ án.

[10] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo thuộc diện hộ nghèo, nhưng tại phiên tòa không xin miễn tiền án phí mà xác định bản thân bị cáo nộp được tiền án phí. Căn cứ khoản 2 Điều 136 và các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, buộc bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm, để nộp ngân sách Nhà nước; bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[11] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, mức hình phạt và các nội dung liên quan đén vụ án là có căn cứ pháp luật, nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Căn cứ khoản 2 Điều 136; các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

1. Tuyên bố bị cáo Linh Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Linh Văn T 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 05-12-2024.

2. Về án phí: Buộc bị cáo Linh Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND TP. Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Công an TP.Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn;
  • - CQTHAHS CATP.Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn;
  • - CCTHADS TP.Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Bị cáo Linh Văn Tôn;
  • - Người TGTT:
  • - Lưu hồ sơ vụ án, văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Xuân Tĩnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 15/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Linh Văn T - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger