|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG TỈNH VĨNH PHÚC Bản án số:15/2025/HS-ST Ngày 26-02-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Văn Tiến.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Kiều Thị Thắng và bà Nguyễn Thị Nghị.
Thư ký phiên tòa: Bà Khổng Phương Thuỳ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương tham gia phiên tòa: Ông Đầu Xuân Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại Nhà văn hoá thôn C, xã H, huyện T. Toà án nhân huyện T đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/HSST-QĐ ngày 12 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn S, sinh ngày 20/12/1992, tại tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn M, xã D, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng, đoàn thể: Không; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn S1 và bà Đào Thị D; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/7/2024 đến nay (có mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị Thu V, sinh năm 1991; địa chỉ: Tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Hiện đang tạm giam tại Trại Tạm giam – Công an tỉnh V (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn S, sinh năm 1992, ở thôn M, xã D, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc là đối tượng nghiện chất ma túy từ năm 2012 cho đến ngày bị bắt giữ. Nguyễn Văn S quen biết với Nguyễn Thị Thu V, sinh năm 1991, ở tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc và biết V có ma túy để bán. Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 24/7/2024, Nguyễn Văn S gọi điện thoại cho Nguyễn Thị Thu V hỏi mua ma túy đá và ma túy ngựa với số tiền 2.500.000 đồng, S thoả thuận với V sẽ trả 1.500.000 đồng tiền mặt còn chuyển khoản số tiền 01 triệu đồng. Nguyễn Thị Thu V đồng ý và hẹn Nguyễn Văn S đến khu vực đèn xanh, đèn đỏ Làng B thuộc phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc để trao đổi mua bán ma tuý. Khoảng 10 phút sau, Nguyễn Văn S đến địa điểm đã hẹn với V thì gặp 01 người đàn ông không biết tên, địa chỉ, xác định là người bán ma túy nên S đưa cho người đàn ông này số tiền 1.500.000 đồng thì được người này đưa cho 01 túi nilon, bên trong có 06 túi nilon nhỏ, mỗi túi nilon nhỏ đều chứa ma túy đá và 02 viên ma túy ngựa. Sau khi mua được ma túy, Nguyễn Văn S sử dụng một phần, số ma túy còn lại cất giấu trên người để sử dụng cho bản thân. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 25/7/2024, Nguyễn Văn S cầm số ma túy đã mua từ tối ngày 24/7/2024 đi ra ngoài để tìm nơi sử dụng. Khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, Nguyễn Văn S đi đến khu vực thôn C, xã D, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc thì bị tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an tỉnh V kiểm tra, phát hiện và lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ: T tại túi quần phía trước bên phải của Nguyễn Văn S 01 túi nilon, bên trong chứa các tinh thể dạng đá màu trắng và 01 túi nilon chứa 04 viên nén màu đỏ (Sáng khai là ma túy đá và ma túy ngựa, tàng trữ để sử dụng), niêm phong ký hiệu A1 theo quy định, thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, vỏ màu đỏ đã qua sử dụng.
Tại Kết luận giám định số 2171/KLGĐ ngày 30/7/2024 của Phòng K - Công an tỉnh V kết luận: “Tinh thể dạng đá màu trắng, có trong mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2818g (không phẩy hai tám một tám gam, không kể bao bì), loại Methamphetamine. 04 (bốn) viên nén màu đỏ có trong mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng là 0,4342g (Không phẩy bốn ba bốn hai gam, không kể bao bì), loại Methamphetamine Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu gồm: mẫu A1 tinh thể = 0,1768 gam và mẫu A1 viên nén = 0,2037 gam cùng bao gói được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật...”
Tại Cáo trạng số: 08/CT-VKSTD ngày 08/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương đã truy tố Nguyễn Văn S về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn S khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 25/7/2024.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người nghiện ma tuý, không có tài sản nên đề nghị miễn hình phạt bổ sung.
Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017); khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015)
Tích thu mẫu A1 tinh thể = 0,1768 gam và mẫu A1 viên nén = 0,2037 gam cùng bao gói được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật, đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung, vỏ màu đỏ đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn S, quá trình điều tra xác định là tài sản Sáng sử dụng để trao đổi mua bán ma túy đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Thu V trình bày: Vân có mối quan hệ bạn bè xã hội với Nguyễn Văn S, ngày 24/7/2024 Nguyễn Văn S chuyển cho V qua tài số tiền 3.000.000đ, đây là số tiền Sáng vay V và nay S chuyển trả cho V qua tài khoản, V chưa bao giờ bán ma tuý cho S, lời khai của S khai trong số 3.000.000đ này có 1.000.000₫ Sáng chuyển tiền mua ma tuý cho V là không đúng.
Bị cáo Nguyễn Văn S không bào chữa và tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn S tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người chứng kiến về thời gian, địa điểm, mục đích, động cơ phạm tội, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án, do đó có đủ căn cứ để kết luận. Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 25/7/2024, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an tỉnh V đang làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát trên địa phận thôn C, xã D, huyện T, đã bắt quả tang Nguyễn Văn S có hành vi tàng trữ trái phép 0,716 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân. T tại túi quần phía trước bên phải của Nguyễn Văn S 01 túi nilon, bên trong chứa các tinh thể dạng đá màu trắng và 01 túi nilon chứa 04 viên nén màu đỏ (Sáng khai là ma túy đá và ma túy ngựa, tàng trữ để sử dụng).
Hành vi của Nguyễn Văn S đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Nội dung điều luật quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển,sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) ..., Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe của con người, làm tác hại cho chính bản thân người nghiện và gia đình họ cũng như cho cộng đồng nói chung. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo phạm tội theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năn 2017), có mức cao nhất của khung hình phạt tù đến 5 năm nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì trường hợp nêu trên thuộc tội phạm nghiêm trọng.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn S không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), là căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
Từ các căn cứ nêu trên xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nếu để cải tạo tại địa phương sẽ không có tác dụng giáo dục nói chung, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản, nên Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Đối với người có liên quan trong vụ án: Đối với Nguyễn Thị Thu V, quá trình điều tra và tại phiên toà không xác định được số tiền Nguyễn Văn S chuyển cho V 3.000.000đ vào tài khoản Ngân hàng V1 của V số 0398.276.908 trong số tiền này có 1.000.0000đ là tiền Sáng mua ma túy của V, còn 02 triệu đồng là tiền Sáng trả nợ V. Quá trình điều tra và tại phiên toà V không thừa nhận đã bán ma tuý cho S, ngoài lời khai của S không có lời khai nào khác và tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh V bán ma tuý cho S. Do đó, không đủ căn cứ để buộc tội đối với Nguyễn Thị Thu V về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” cho Nguyễn Văn S ngày 24/7/2024. Do vậy, C điều tra không đề cập xử lý là đúng quy định.
Đối với người đàn ông đã trực tiếp giao dịch, trao đổi mua bán ma túy với Nguyễn Văn S, quá trình điều tra Sáng khai không biết tên, địa chỉ của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, kiến nghi Cơ Quan điều tra tiếp tục điều tra khi nào làm rõ xử lý sau.
[6] Về vật chứng: Đối với mẫu A1 tinh thể = 0,1768 gam và mẫu A1 viên nén = 0,2037 gam cùng bao gói được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật, đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung, vỏ màu đỏ đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn S, quá trình điều tra xác định là tài sản Sáng sử dụng để trao đổi mua bán ma túy do vậy cần tịch thu bán phát mại sung quỹ Nhà nước.
[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 25/7/2024).
Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm: A1 tinh thể = 0,1768 gam và mẫu A1 viên nén = 0,2037 gam cùng bao gói là ma túy Methamphetamine.
Tịch thu điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung, vỏ màu đỏ đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn S để bán phát mại sung công quỹ Nhà nước.
(Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện T với Chi cục thi hành án dân sự huyện Tam Dương).
Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Văn S phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đào Văn Tiến |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Kiều Thị Thắng Nguyễn Thị Nghị |
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Văn Tiến |
Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 15/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Sáng tàng trữ trái phép chất ma tuý
