|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 15/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 24-02-2025.
V/v Tranh chấp về cấp
dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phước Tài.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Phước
- Ông Hà Văn Châu
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Ý - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Ngọc - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 160/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Liêng Thanh N, sinh năm 1986 (có mặt)
Địa chỉ: Số E, đường N, Khóm D, Phường I (nay là Phường A), thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn: Ông Bùi Thanh S, sinh năm 1967 (có mặt)
Địa chỉ: Số A, đường số C, khu dân cư L, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 07/10/2024, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Liêng Thanh N trình bày:
Bà N và ông Bùi Thanh S là vợ chồng và đã được Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng giải quyết ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải tại tòa án số 10/2024/QĐCNTTLH ngày 16/02/2024. Theo Quyết định ly hôn, đối với con chung là cháu Bùi Thanh M sẽ do bà N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con.
Nay bà N nhận thấy ông S có điều kiện kinh tế nên đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Bùi Thanh S cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn cho cháu Bùi Thị Thanh M, sinh ngày 13/7/2012 mỗi tháng 4.000.000 đồng, cấp dưỡng một lần, thời gian cấp dưỡng từ ngày 16/01/2024 đến khi cháu M tròn 18 tuổi.
Trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa, bị đơn Bùi Thanh S trình bày:
Ông S với bà Liêng Thanh N là vợ chồng, nhưng đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải tại tòa án số 10/2024/QĐCNTTLH ngày 16/02/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi ly hôn, bà Liêng Thanh N là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Bùi Thị Thanh M, sinh ngày 13/7/2012. Ông không cấp dưỡng nuôi con.
Nay đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông không đồng ý, vì ông không có công việc và không có thu nhập.
Tại phiên tòa hôm nay, vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước khi Hội đồng xét xử tiến hành nghị án, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về trình tự, thủ tục tố tụng. Đối với những người tham gia tố tụng thì trước và tại phiên tòa hôm nay chấp hành đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa sơ thẩm Hội đồng xét xử, thư ký thực hiện đúng trình tự thủ tục tại phiên tòa.
Về nội dung, Vị đại diện Viện kiểm sát nêu quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
[1] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu ông Bùi Thanh S cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn cho cháu Bùi Thị Thanh M, sinh ngày 13/7/2012. Thấy rằng, việc yêu cầu cấp dưỡng cho con là nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
con. Cháu cháu Bùi Thị Thanh M, sinh ngày 13/7/2012 hiện nay đang sinh sống cùng bà N, nên bà N yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 82, khoản 1 Điều 83, Điều 107 và Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình.
[2] Về mức cấp dưỡng nuôi con mà bà N yêu cầu mỗi tháng 4.000.000 đồng. Thấy rằng, mặc dù hiện nay, ông S không có công việc ổn định, không tạo ra thu nhập cố định hằng tháng. Tuy nhiên, theo Bản án số 14/2025/DS-PT ngày 10/01/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng khi bà N và ông S phân chia tài sản chung thì bà N có trách nhiệm trả cho ông S số tiền 450.000.000 đồng.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị Quyết 01/2024/NQ- HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình thì: “Tiền cấp dưỡng cho con là toàn bộ chi phí cho việc nuôi dưỡng, học tập của con và do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên không thoả thuận được thì Tòa án quyết định mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con”. Đồng thời, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình thì: “Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết”.
Như vậy, căn cứ vào mức thu nhập thực tế của ông S và nhu cầu thiết yếu của cháu Bùi Thị Thanh M sinh sống trên địa bàn thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Hội đồng xét xử xác định mức cấp dưỡng bằng một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi ông S đang cư trú 4.410.000 đồng : 2 = 2.205.000 đồng.
[3] Về thời gian cấp dưỡng nuôi con từ ngày 16/01/2024 đến khi cháu M tròn 18 tuổi. Theo quy định tại khoản 4 Điều 7 Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình thì: “Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình phát sinh kể từ thời điểm cha, mẹ không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”.
Thấy rằng, tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải tại tòa án số 10/2024/QĐCNTTLH ngày 16/02/2024 thì
bà N không yêu cầu ông S cấp dưỡng nuôi con. Đây là sự tự thỏa thuận của các đương sự nên cần phải được thực hiện. Từ khi thỏa thuận đến nay thì bà N mới có đơn yêu cầu ông S thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Như đã phân tích thì từ khi ông S và bà N ly hôn thì ông S không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Chỉ đến khi Bản án số 14/2025/DS-PT ngày 10/01/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng khi bà N và ông S phân chia tài sản chung thì bà N có trách nhiệm trả cho ông S số tiền 450.000.000 đồng. Vì vậy hội đồng xét xử xác định thời gian tính bắt đầu ông S thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng là từ ngày xét xử sơ thẩm là ngày 24/02/2025 cho đến khi cháu M tròn 18 tuổi.
[4] Về yêu cầu cấp dưỡng một lần. Theo quy định tại khoản 3 Điều 7 Nghị Quyết 01/2024/NQ- HĐTP ngày 16 tháng 5 năm 2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình thì: “Trường hợp các bên không thỏa thuận được phương thức cấp dưỡng thì Tòa án quyết định phương thức cấp dưỡng hàng tháng hoặc phương thức khác phù hợp với nhu cầu, lợi ích của con và điều kiện kinh tế của người cấp dưỡng”.
Việc cấp dưỡng nuôi con là phải căn cứ vào nhu cầu, lợi ích của con và điều kiện kinh tế của người cấp dưỡng. Do đó, lý do bà N đưa ra để buộc ông S cấp dưỡng một lần để bà có tiền để trả cho ông S theo Bản án số 14/2025/DS-PT ngày 10/01/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng là không có căn cứ chấp nhận.
[5] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn ông Bùi Thanh S có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho cháu Bùi Thị Thanh M, sinh ngày 13/7/2012 mỗi tháng 2.205.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ ngày 24 tháng 02 năm 2025 cho đến khi cháu M tròn 18 tuổi.
[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà hôm nay là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà Liêng Thanh N không phải chịu phí. Ông Bùi Thanh S phải chịu số tiền 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Khoản 5 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, đểm a khoản 1 Điều 39, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ: Khoản 2 Điều 82, khoản 1 Điều 83, Điều 107, Điều 110, khoản 1 Điều 116 và Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ: Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Liêng Thanh N. Buộc ông Bùi Thanh S có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho cháu Bùi Thị Thanh M, sinh ngày 13/7/2012 mỗi tháng 2.205.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ ngày 24 tháng 02 năm 2025 cho đến khi cháu M tròn 18 tuổi.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Bà bà Liêng Thanh N không phải chịu án phí.
- - Ông Bùi Thanh S phải chịu án phí về cấp dưỡng nuôi con số tiền 300.000 đồng;
- Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung); Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đã ký Lê Phước Tài |
Bản án số 15/2025/HNGĐ-ST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn
- Số bản án: 15/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Liên Thanh N-Bùi Thanh S
