|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 15/2025/HS-PT Ngày 24 - 02 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Vĩnh Thành
Ông Nguyễn Xuân Trọng
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Kim Tuyến và bà Đỗ Thị Ánh N - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 21 và ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 136/2024/TLPT- HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Kiều Thế A cùng đồng phạm, do có kháng cáo của bị cáo Kiều Thế A và bị cáo Nguyễn Thị H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 131/2024/HS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Các bị cáo có kháng cáo:
- Kiều Thế A (tên gọi khác là T), sinh ngày 05 tháng 7 năm 1987 tại Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố L, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Kiều Văn V và bà Phùng Thị H1; có vợ là Nguyễn Thị H2 và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 11/2010/HSPT ngày 26/8/2010, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang xử phạt Kiều Thế A 03 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm về tội Cố ý gây thương tích; Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2011/HSST ngày 30/8/2011, Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Kiều Thế A 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, trị giá tài sản trộm cắp là 2.800.000đ; Tổng hợp 03 năm tù cho hưởng án treo của Bản án hình sự phúc thẩm số 11/2010/HSPT ngày 26/8/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang buộc
Thế A chấp hành hình phạt chung cho cả hai Bản án là 04 năm tù, án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ. Ngày 27/10/2014, Thế A chấp hành xong hình phạt tù, ngày 08/11/2011, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm; Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2020/HSST ngày 14/02/2020, Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Kiều Thế A 01 năm tù về tội Cố ý gây thương tích, án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ. Ngày 02/11/2020, Thế A chấp hành xong hình phạt tù, ngày 17/4/2020 Thế A chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/02/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh V (có mặt).
- Nguyễn Thị H, sinh ngày 03 tháng 11 năm 1996 tại Phú Thọ; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm T, xã N, huyện C, tỉnh Phú Thọ; chỗ ở hiện nay: TDP H, thị trấn K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2; có chồng là Vũ Văn S và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại (có mặt).
Bị cáo không kháng cáo:
- Vũ Văn S, sinh ngày 19 tháng 9 năm 1994; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: TDP Q, thị trấn H, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; Hiện đang chấp hành hình phạt tại Trại giam S1, Bộ C theo Bản án hình sự sơ thẩm số 131/2024/HSST ngày 09/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên. (có mặt).
- Hoàng Văn B, sinh ngày 10 tháng 8 năm 1965; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: TDP Đ, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; chỗ ở hiện nay: TDP C, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).
- Hà Mạnh H3, sinh ngày 27 tháng 02 năm 1996; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: TDP S, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Hiện đang chấp hành hình phạt tại Trại giam Q, Bộ C theo bản án hình sự sơ thẩm số 131/2024/HSST ngày 09/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên xử 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (có mặt).
Người làm chứng:
- Anh Chu Đình T3, sinh năm 1993; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: TDP S, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).
- Chị Nguyễn Thị Yến H4, sinh năm 1980, T4 tại: Tổ dân phố G, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).
Vụ án có bị hại nhưng không kháng cáo, tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Kiều Thế A nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản là đồ gia dụng tại các nhà dân không có người quản lý để bán lấy tiền tiêu. Để thực hiện hành vi, Thế A rủ Vũ Văn S và Hoàng Văn B cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Sau khi trộm cắp được tài sản, Thế A bảo Hà Mạnh H3, hiện đang ở cùng nhà với Thế A tại khu Đ, phường Đ, thành phố V chuyển tài sản trộm cắp được đến nhà của S, sau đó S cùng với vợ là Nguyễn Thị H tìm người tiêu thụ tài sản lấy tiền chia nhau sử dụng.
Trong khoảng thời gian từ ngày 18/01/2024 đến ngày 03/02/2024, Kiều Thế A, Vũ Văn S, Hoàng Văn B đã cùng nhau thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn phường K, thành phố V, trong đó Thế A và S cùng nhau thực hiện 3 vụ trộm cắp, còn B tham gia 01 vụ. Cụ thể:
Vụ 1: Khoảng 19 giờ ngày 18/01/2024, Kiều Thế A gọi điện thoại rủ Vũ Văn S vào nhà Thế A tại phường Đ, thành phố V để đi trộm cắp tài sản, S đồng ý và điều khiển xe máy BKS: 19G1-482.22 một mình đi vào nhà Thế A. Sau khi S đến, Thế A sử dụng xe máy nhãn hiệu Wave do Trung Quốc sản xuất màu đỏ, không rõ biển kiểm soát chở S đi đến Khu đô thị V thuộc tổ dân phố T, phường K, thành phố V. Trên đường đi, Thế A bảo S đứng bên ngoài cảnh giới và hỗ trợ để Thế A vào nhà trộm cắp tài sản. Khi đi đến nhà của gia đình chị Hoàng Thị M thuộc dãy biệt thự liền kề nhìn ra đường vành đai 2 của khu đô thị, Thế A điều khiển xe máy đi qua nhà của chị M, đến căn nhà xây thô, bỏ hoang ở cuối dãy biệt thự liền kề thì dừng lại. Lúc này, gia đình chị M về quê ở xã B, huyện T, ngôi nhà khóa cửa, không có người trông coi. Thế A bảo S đợi ở tầng 1 căn nhà bỏ hoang này, còn Thế A đi bộ đến căn nhà hoang cạnh nhà chị M, trèo lên tầng 5 sau đó đi sang tầng 5 của nhà chị M. Sau khi vào được trong nhà chị M, Thế A lấy trộm 01 máy sấy quần áo nhãn hiệu Beko để trên tầng 5, 01 dàn nóng và 01 dàn lạnh của máy điều hòa nhãn hiệu Daikin được lắp ở tầng 4. Thế A dùng chăn bọc máy điều hòa, máy sấy, sau đó bê sang tầng 5 căn nhà S đang chờ, buộc dây thả qua giếng trời trong nhà xuống tầng 1 để S đỡ. Sau khi trộm cắp xong, Thế A quay lại theo đường cũ đến vị trí S đang đợi, rồi cùng S đem máy sấy và điều hòa vừa trộm cắp được cất giấu tại bụi cây thuộc bãi đất trống phía sau chùa Đ, tổ dân phố T, phường K, thành phố V.
Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, Thế A và S quay trở về nhà Thế A. Lúc này Hà Mạnh H3 đang ngủ thì Thế A gọi H3 dậy và nói “anh và S mới đi lấy đồ về, sáng mai mày với S ra chỗ sau chùa Đ chở đồ về cho anh, chở đồ đêm người ta nghi
ngờ”, sau đó đem sang nhà S để bán. S cũng nói: “chở đồ buổi sáng người ta nghĩ là mình như đi chợ không nghi ngờ gì”. Sau khi nghe Thế A và S nói, H3 hiểu Thế A và S vừa đi trộm cắp tài sản về. Tuy nhiên, H3 không từ chối mà đồng ý giúp Thế A và S chở đồ là tài sản do phạm tội mà có đem về nhà S để bán. Sau đó S đi về nhà, Thế A và H3 đi ngủ. Đến khoảng 01 giờ ngày 19/01/2024, Thế A gọi H3 dậy, đưa H3 đến chỗ Thế A và S cất giấu tài sản mà trước đó đã trộm cắp được, mục đích để H3 ghi nhớ vị trí, đến sáng cùng S đi chở đồ. Khoảng 05 giờ ngày 19/01/2024, S điều khiển xe máy BKS: 19G1-482.22 một mình đi đến nhà Thế A, rồi cùng H3 điều khiển xe máy nhãn hiệu Wave do Trung Quốc sản xuất màu đỏ, không rõ biển kiểm soát cùng nhau đi đến vị trí bụi cây ở bãi đất trống sau chùa Đ, S chở máy điều hòa về thẳng nhà S, còn H3 chở máy sấy đi về nhà Thế A để hỏi Thế A về việc chở đồ về nhà S để làm gì, thì Thế A nói chở máy sấy về nhà S, chờ S bán rồi đem tiền về cho Thế A. H3 đồng ý, tiếp tục chở máy sấy về nhà S ở Tổ dân phố H, thị trấn K, huyện T. Khi S chở máy điều hòa về đến nhà thì Nguyễn Thị H là vợ của S đang ở nhà. H có hỏi S nguồn gốc máy điều hòa thì S nói do H5 “trố” (là anh em bạn bè xã hội của S) cho. Sau khi H3 chở máy sấy đến nhà S, H3 bảo S tìm người mua số tài sản này để đem tiền về cho Thế A. S đồng ý và bảo H3 về trước, khi nào bán được tài sản thì sẽ gọi H3 vào lấy tiền, H3 đồng ý và điều khiển xe máy về nhà của Thế A. S lên mạng xã hội Facebook thì thấy anh Nguyễn Quốc V1 đăng số điện thoại nhận mua hàng điện tử cũ. S điện thoại cho anh V1, thỏa thuận bán cho anh V1 máy điều hòa với giá 4.000.000đ và máy sấy giá 2.000.000đ. Sau đó, anh V1 một mình vào nhà S, sau khi kiểm tra, anh V1 đồng ý mua theo giá thỏa thuận trên. S gọi điện thoại cho Thế A hỏi ý kiến thì Thế A đồng ý bán với giá S đã thỏa thuận, đồng thời bảo S chia số tiền bán tài sản làm 3 phần cho Thế A, S và H3 mỗi người 2.000.000đ. Sau khi Thế A đồng ý bán, S cùng anh V1 chở máy sấy và máy điều hòa về nhà anh V1. Tại đây, anh V1 đưa cho S số tiền mặt 6.000.000đ. Toàn bộ quá trình mua bán, H có biết nhưng vì S nói đây là tài sản của bạn cho nên H không có ý kiến gì. Sau khi về nhà, S đưa cho H số tiền 4.000.000đ, còn 2.000.000đ S bảo với H là đưa cho H3. S dự định lấy tiền công làm thợ xây để đưa cho Thế A 2.000.000đ, vì không muốn H biết việc S cùng Thế A đi trộm cắp tài sản. Sau khi đưa tiền cho H, S gọi cho H3 đến nhà S lấy tiền. Khi H3 đến, S đưa cho H3 số tiền 1.600.000đ (vì trước đó H3 nợ S 400.000đ nên S trừ nợ). Số tiền này, H3 đem về nhà Thế A, đưa cho Thế A thì Thế A lấy 300.000đ, còn đưa lại cho H3 1.300.000đ, H3 đã tiêu xài cá nhân hết số tiền đó.
Vụ 2: Trưa ngày 19/01/2024, Thế A tiếp tục gọi điện cho S rủ đi trộm cắp tài sản, S đồng ý, một mình đi vào nhà Thế A. Khi đến nơi, S đưa cho Thế A số tiền 2.000.000đ. Sau đó, Thế A tiếp tục điều khiển xe máy nhãn hiệu Wave do Trung Quốc sản xuất màu đỏ, không rõ biển kiểm soát chở S quay lại nhà chị M để trộm cắp tài sản. Thế A và S đi theo đường cũ đến tầng 5 nhà chị M thì Thế A mở cửa đi vào nhà, còn S đứng ở ban công cảnh giới. Thế A đi xuống tầng 2, trộm cắp 01 tivi nhãn hiệu Xiaomi 75 I, sau đó dùng chăn bọc tivi lại, đem lên tầng 5 đưa cho S. Sau khi nhận tivi, S đem sang tầng 5 ngôi nhà hoang ở cuối dãy, để chiếc tivi lại trên tầng 5 rồi đi bộ xuống tầng 1. Lúc này, Thế A quay lại tiếp tục trộm cắp tài sản giấu trong 02 bọc đồ được bọc kín bằng ga trải giường, trong đó có 01 bọc đựng quần áo cũ. Khoảng 30 phút sau, Thế A đi sang tầng 5 căn nhà hoang ở cuối dãy, dùng dây thừng thả tivi xuống tầng 1 cho S đỡ rồi thả tiếp 02 bọc đồ xuống. Sau khi trộm cắp xong, Thế A đưa tivi và 01 bọc đồ đựng quần áo cũ cho S rồi bảo S gọi H ra đón, đem tivi về để tránh nghi ngờ, còn Thế A cầm 01 bọc đồ, điều khiển xe máy về trước. S gọi điện cho H đến đón, sau khi H đồng ý thì S cất giấu tivi tại tầng 1 ngôi nhà hoang, rồi đi bộ lên đường vành đai 2 đứng tại góc ngã tư bên lối rẽ đi xã H để đón H. Sau khi H điều khiển xe máy BKS: 88B1-325.06 chở theo con nhỏ đến, S điều khiển xe đưa H và con quay lại ngôi nhà hoang, lấy tivi và bọc đồ rồi cùng nhau đi về nhà. Khi đến ngôi nhà hoang, H nhận biết tivi là tài sản do S trộm cắp mà có nhưng H không nói gì, cùng S chở đồ về nhà, mục đích để bán lấy tiền. Trên đường đi, H nói “Camera như thế này mà anh cũng dám lấy à” thì S nói, “rút hết camera rồi, lấy tivi chỗ khác đem về đây”. Sau khi về đến nhà, S cất bọc đồ đựng quần áo vào tủ, còn tivi thì S bán cho ông Lưu Ngọc H6 với giá 4.950.000đ. Số tiền bán tivi, S đưa toàn bộ cho H và H đã tiêu xài hết. Còn S lấy tiền riêng của mình đưa cho Thế A 5.000.000đ nói là tiền bán ti vi. Thế A lấy 3.000.000đ và chia cho S 2.000.000đ.
Ngày 25/01/2024, gia đình chị M quay lại biệt thự thì phát hiện bị trộm cắp tài sản nên đã đến Công an phường K trình báo. Theo chị M, trị giá tivi là 25.000.000đ, trị giá máy sấy là 15.000.000đ, trị giá máy điều hòa 14.500.000đ, tổng trị giá tài sản bị trộm cắp là 54.500.000đ. Ngoài ra số quần áo, chăn bị trộm cắp là số đồ cũ bỏ đi, hiện không có giá trị sử dụng nên chị không trình báo và không có yêu cầu gì đối với số tài sản này.
Vụ 3: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 03/02/2024, Kiều Thế A gọi điện rủ Vũ Văn S đến nhà Thế A để đi trộm cắp tài sản, S đồng ý, nhờ H điều khiển xe máy BKS: 88B1-325.06 đến khu vực trường THPT C1, sau đó một mình đi bộ vào nhà Thế A tại khu Đ, phường Đ, thành phố V. Sau khi S đến nhà, Thế A điều khiển xe máy nhãn hiệu Wave do Trung Quốc sản xuất màu đỏ, không rõ biển kiểm soát chở S đến nhà anh Hà Quốc T5 ở khu vực N tổ dân phố T, phường K, thành phố V. Do nhà anh T5 ở gần nhà Thế A nên Thế A biết gia đình anh T5 chủ yếu sống ở thành phố Hà Nội, thỉnh thoảng mới về sống ở thành phố V nên nhà không có người trông coi. Do S không phải là cư dân sống ở khu vực này, sẽ không bị nhận ra nên Thế A bảo S vào nhà anh T5 đẩy các mắt camera an ninh bảo vệ gắn ngoài nhà hướng lên trời. S đồng ý, lấy gậy đẩy 03 mắt camera ở sườn nhà lên trời. Sau khi S đẩy camera lên, Thế A mới tiến vào khu vực ngôi nhà, đi đến mở cửa sổ khu vực bếp, dùng gậy đẩy mắt camera góc cửa sổ bên trong nhà lên rồi trèo qua cửa sổ vào trong nhà, và mở cửa ngách ở khu vực bếp. Sau đó Thế A bảo S lấy xe rùa để ở vườn đến để chở đồ. Sau khi S lấy được xe rùa để ở trước cửa bếp thì Thế A và S vào nhà cùng nhau khiêng máy giặt nhãn hiệu Electrolux đem ra ngoài đặt lên xe rùa. Thế A bảo S điều khiển xe rùa chở máy giặt về, nhưng S không dám thực hiện vì sợ bị phát hiện. Thấy vậy nên Thế A bảo S cùng quay về nhà Thế A, đợi đến tối quay lại lấy.
Khoảng 21 giờ cùng ngày, Kiều Thế A gọi điện cho S và Hoàng Văn B đến nhà Thế A để chuẩn bị đi trộm cắp tài sản. Thế A, B và S bàn bạc đợi đến đêm khuya thì tiếp tục trộm cắp tài sản của nhà anh T5. Khi Thế A, B và S bàn bạc việc trộm cắp tài sản thì không nói cho H3 biết. Lúc này, H3 chuẩn bị về nhà ở thị trấn Đ, huyện T. Một lúc sau, anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1991, trú tại thôn N, xã S, huyện B là anh vợ của Thế A đến chơi. Sau khi H3 đi về nhà, Thế A bảo S và B đi trước, ý là đi đến nhà anh T5 trộm cắp trước, khi nào anh L về thì Thế A đến sau. B và S đến nhà B rồi đi bộ từ nhà B đến nhà anh T5, tuy nhiên cả hai đi đường vòng để tránh chó sủa, sợ bị lộ. Khoảng 10 phút sau, anh L ra về, Thế A đi bộ theo đường đi lúc sáng lên nhà anh T5. Khi S và B đến nhà anh T5, cả hai vào nhà qua cửa ngách ở bếp rồi khiêng tủ lạnh nhãn hiệu LG từ trong bếp ra ngoài cửa, để lên xe rùa rồi cùng nhau đẩy xuống dưới chân dốc. Lúc này, S và B gặp Thế A đang đi bộ đến nhà anh T5. S và B để tủ lạnh tại chân dốc rồi quay lại nhà anh T5, tiếp tục trộm cắp 01 kệ tivi bằng gỗ hương đá và một vài chai rượu nước ngoài bỏ vào ngăn kéo kệ tivi khiêng ra ngoài, đặt lên xe rùa, cùng nhau đẩy về vị trí đặt tủ lạnh dưới chân dốc. Lúc này, B bảo S quay lại nhà anh T5 kiểm tra camera an ninh, còn B chở tủ lạnh về trước, cất giấu tại một bụi cây gần nhà B rồi quay lại nhà anh T5. Khi S đi qua vị trí Thế A đứng thì Thế A bảo S đem xe rùa quay lại nhà anh T5 cho Thế A, sau đó Thế A một mình đi lên nhà anh T5, đẩy xe rùa chứa máy giặt mà S và Thế A lấy trộm buổi sáng xuống dốc. Sau khi S đặt kệ tivi xuống ven đường dưới chân dốc rồi đem xe rùa quay lại nhà anh T5, lúc này Thế A dùng xe rùa chở máy giặt đi xuống. Thấy vậy, S cùng Thế A đẩy xe rùa xuống dưới chân dốc. Khi B quay trở lại, Thế A bảo S cùng B về trước nên S và B chở kệ tivi bằng xe rùa đến vị trí B cất giấu tủ lạnh thì để kệ
tivi ở đây, rồi B và S ai về nhà nấy. Thế A tiếp tục đẩy xe rùa chở máy giặt đem về đặt ở vị trí trước cửa bếp của nhà Thế A.
Khoảng gần 07 giờ ngày 04/02/2024, H3 từ nhà ở Thị trấn Đ quay lại nhà Thế A thì thấy ở vị trí cửa bếp có đặt một chiếc máy giặt nhãn hiệu Electrolux đã qua sử dụng. H3 hỏi Thế A máy giặt ở đâu thế thì Thế A nói là lấy trên Núi Đinh nên H3 hiểu đây là tài sản do Thế A trộm cắp ở trên Núi Đinh vào đêm hôm qua mà có. Thế A bảo H3 chở máy giặt đó ra nhà S để bán rồi đem tiền về cho Thế A, H3 đồng ý. H3 cùng Thế A khiêng máy giặt lên xe máy nhãn hiệu Wave do Trung Quốc sản xuất màu đỏ, không rõ biển kiểm soát của Thế A, khi H3 đang buộc máy giặt lên xe máy để đem đến nhà S thì Thế A đưa cho H3 01 bao tải, bên trong chứa 03 chai rượu do nước ngoài sản xuất, bao gồm: 01 chai nhãn hiệu ROYAL SALUTE 21; 01 chai rượu CHIVAS REGAL 18; 01 chai rượu THE GLENLIVET và bảo H3 đem đến đưa cho S. Sau đó, Thế A gọi điện bảo S tìm người mua máy giặt. Khi H3 chở máy giặt đến nhà S thì S và H cùng nhau đưa máy giặt xuống. Lúc này, H hiểu đây là tài sản do S trộm cắp mà có, nhưng H vẫn bàn với S sẽ bán máy giặt gia đình đang sử dụng để lấy tiền và sử dụng máy giặt vừa trộm cắp được để thay thế. Tuy nhiên, do gần đến Tết Nguyên đán nên S, H chưa bán được máy giặt. Khoảng 20 giờ ngày 05/02/2024, B và S lần lượt đẩy xe rùa chở tủ lạnh và kệ tivi trộm cắp được tại nhà của anh T5 về cất giấu trong buồng nhà B.
Ngày 05/02/2024, khi gia đình anh T5 trở về nhà thì phát hiện bị trộm cắp tài sản nên đã đến Công an phường K trình báo. Theo anh T5, máy giặt sấy nhãn hiệu Electrolux trị giá 12.000.000đ; Tủ lạnh nhãn hiệu LG trị giá 5.000.000đ; Kệ tivi bằng gỗ hương trị giá 17.000.000đ; 01 chai rượu nhãn hiệu ROYAL SALUTE 21 trị giá 2.350.000đ; 01 chai rượu CHIVAS REGAL 18 trị giá 1.300.000đ; 01 chai rượu THE GLENLIVET trị giá 1.400.000đ, tổng trị giá tài sản bị trộm cắp là 39.050.000đ. Ngoài ra còn một số chai rượu do nước ngoài sản xuất khác bị trộm cắp nhưng anh T5 không nhớ nhãn hiệu, chủng loại, không biết trị giá cụ thể nên anh T5 không yêu cầu gì đối với những chai rượu này.
Khám xét khẩn cấp:
Ngày 06/02/2024, Cơ quan CSĐT – Công an thành phố V tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Hoàng Văn B ở khu N, phường Đ, thành phố V. Kết quả khám xét, Cơ quan điều tra thu giữ tại buồng ngủ của Hoàng Văn B: 01 tủ lạnh nhãn hiệu LG, 01 kệ TV bằng gỗ thịt màu đỏ, có 04 ngăn kéo kích thước (230x69x42,5)cm.
Cùng ngày 06/02/2024, Cơ quan CSĐT – Công an thành phố V tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở là phòng trọ của Vũ Văn S ở tổ dân phố H, thị trấn K, huyện T. Kết quả khám xét, Cơ quan điều tra thu giữ: Trên mặt tủ quần áo trong phòng ngủ của S 01 chai nhãn hiệu ROYAL SALUTE 21; 01 chai rượu CHIVAS REGAL 18; 01 chai rượu THE GLENLIVET, thu giữ trong tủ quần áo của S 01 ga trải giường màu xanh, thu trong bếp của nhà S 01 máy giặt nhãn hiệu Electrolux cửa ngang, 01 áo khoác màu xanh rêu có mũ chùm đầu, 01 áo khoác dài tay màu xanh rêu có mũ chùm đầu, 01 quần dài màu xanh.
Cùng ngày 06/02/2024, ông Lưu Ngọc H6 tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V 01 tivi nhãn hiệu Xiaomi, loại 75 Inch cùng điều khiển để phục vụ điều tra. Vũ Văn S tự nguyện giao nộp xe máy nhãn hiệu Honda Vision BKS: 88B1-325.06.
Ngày 07/02/2024, Kiều Thế A tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6.
Ngày 28/02/2024, anh Nguyễn Quốc V1 tự nguyện giao nộp 01 máy điều hòa nhiệt độ nhãn hiệu Daikin bao gồm 01 dàn nóng và 01 dàn lạnh để phục vụ điều tra.
Định giá tài sản:
Ngày 20/02/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố V có yêu cầu số 665 đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố V định giá đối với 01 máy giặt sấy nhãn hiệu Electrolux; 01 tủ lạnh nhãn hiệu LG; 01 kệ để ti vi bằng gỗ màu đỏ; 01 tivi nhãn hiệu Xiaomi loại 75inch; 01 máy sấy quần áo; 01 điều hòa nhãn hiệu Daikin.
Tại Kết luận số 19 ngày 28/02/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố V kết luận: 01 máy giặt sấy nhãn hiệu Electrolux trị giá 9.000.000đ; 01 tủ lạnh nhãn hiệu LG trị giá: 4.500.000đ; 01 kệ để ti vi bằng gỗ màu đỏ trị giá: 15.000.000đ; 01 tivi nhãn hiệu Xiaomi loại 75inch trị giá: 13.600.000đ; 01 máy sấy quần áo nhãn hiệu Beko trị giá: 5.300.000đ; 01 điều hòa nhãn hiệu Daikin trị giá: 8.000.000đ.Tổng trị giá tài sản trộm cắp là 55.400.000đ.
Ngày 26/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố V có yêu cầu số 1527 đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố V định giá đối với 01 chai rượu nhãn hiệu ROYAL SALUTE 21; 01 chai rượu CHIVAS REGAL 18; 01 chai rượu THE GLENLIVET.
Tại Kết luận số 44 ngày 02/5/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố V kết luận: 01 chai rượu nhãn hiệu ROYAL SALUTE 21 trị giá 2.200.000đ; 01 chai rượu CHIVAS REGAL 18 có trị giá 1.200.000đ; 01 chai rượu THE GLENLIVET có trị giá 1.200.000đ. Tổng trị giá tài sản trộm cắp là 4.600.000đ.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo Vũ Văn S, Hoàng Văn B, Hà Mạnh H3, Nguyễn Thị H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng truy tố. Riêng bị cáo Kiều Thế A không nhận tội. Bị cáo Thế A cho rằng bị cáo không thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào các ngày 18, 19 tháng 01 năm 2024 và 03/02/2024. Sự việc này có Phan Văn T6 làm chứng. Hội đồng xét xử sơ thẩm đã triệu tập Phan Văn T6 đến phiên tòa sơ thẩm. Tại phiên tòa sơ thẩm, T6 khẳng định bản thân đã bị Cơ quan CSĐT Công an huyện T bắt tạm giữ, tạm giam trong một vụ án khác vào ngày 06/01/2024 nên hoàn toàn không biết sự việc xảy ra đối với Kiều Thế A vào các ngày 18, 19 tháng 01 năm 2024 và 03/02/2024. Kiều Thế A không có ý kiến gì về lời khai của người làm chứng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 131/2024/HS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:
Tuyên bố: Các bị cáo Kiều Thế A, Vũ Văn S, Hoàng Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo Hà Mạnh H3, Nguyễn Thị H phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự
Xử phạt bị cáo Kiều Thế A 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 26/02/2024.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên hình phạt đối với các bị cáo khác, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo.
Ngày 17/9/2024, bị cáo Nguyễn Thị H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo; Bị cáo nộp đơn có xác nhận của chính quyền địa phương thể hiện gia đình bị cáo neo đơn, khó khăn bị cáo là lao động chính trong gia đình, một mình bị cáo nuôi dạy con nhỏ, bị cáo lần đầu vi phạm pháp luật.
Ngày 19/9/2024, bị cáo Kiều Thế A kháng cáo kêu oan, bị cáo cho rằng bị cáo bị bức cung nhục hình, bị cáo không phạm tội trộm cắp, cấp sơ thẩm xử không đúng người đúng tội.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Kiều Thế A luôn khẳng định bị cáo bị oan, bị ép cung, nhục hình. Bị cáo không tham gia trộm cắp cùng bị cáo Vũ Văn S và bị cáo Hoàng Văn B. Bị cáo không có và hàng ngày không sử dụng xe Wave do Trung Quốc sản xuất màu đỏ. Bị cáo đề nghị triệu tập các bị cáo Vũ Văn S, Hoàng Văn B và
bị cáo Hà Mạnh H3 ra phiên tòa phúc thẩm để minh oan cho bị cáo vì sau khi xét xử sơ thẩm các bị cáo S, B, H3 nói bị cáo bị oan. Bị cáo còn khẳng định anh Chu Đình T3, sinh năm 1993, trú tại: TDP S, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia trộm cắp cùng bị cáo S. Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 công an Vĩnh Yên thu giữ là điện thoại của bị cáo, bị cáo chỉ có duy nhất 01 chiếc điện thoại này và sử dụng từ tháng 11/2023 cho đến khi bị công an V thu giữ. Chiếc điện thoại này bị cáo không nhớ lắp sim số 0941.468.895 hay sim số có đuôi 333 để gọi điện cho bạn bè và gia đình. Ngoài chiếc điện thoại này bị cáo không có điện thoại nào khác. Sau khi bị công an V thu giữ thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, bị cáo dùng điện thoại nôkia đen trắng, hiện nay bị cáo không biết chiếc điện thoại nokia ở đâu.
Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Vũ Văn S, Hoàng Văn B và bị cáo Hà Mạnh H3 đều xác định sau khi tòa án xét xử sơ thẩm, các bị cáo không gặp bị cáo Kiều Thế A và không có trao đổi gì với bị cáo Thế A.
Bị cáo S trình bày bị cáo Thế A rủ bị cáo đi trộm cắp và tham gia trộm cắp với bị cáo 03 lần vào ngày 18/01/2024, ngày 19/01/2024 và ngày 03/02/2024. Riêng ngày 03/02/2024, ngoài bị cáo và Thế A còn có bị cáo B. Anh T3 không tham gia trộm cắp lần nào cùng bị cáo. Ngày 18/01/2024, ngày 19/01/2024 bị cáo và Thế A trộm cắp tài sản nhà chị M. Sáng ngày 03/02/2024 Thế A rủ bị cáo đến nhà anh T5 trộm cắp máy giặt nhãn hiệu Electrolux đem ra ngoài đặt lên xe rùa nhưng bị cáo sợ không dám thực hiện nên Thế A bảo bị cáo tối quay lại lấy. Khoảng 21 giờ cùng ngày, bị cáo và Hoàng Văn B đến nhà Thế A để chuẩn bị đi trộm cắp tài sản thì có anh Nguyễn Văn L (anh vợ bị cáo Thế A) đến chơi, bị cáo Thế A bảo bị cáo và bị cáo B đi trộm cắp tài sản nhà anh T5 trước, anh L về bị cáo Thế A đến sau. Khi bị cáo và B lấy được tủ lạnh nhãn hiệu LG nhà anh T5 để lên xe rùa rồi cùng nhau đẩy xuống dưới chân dốc thì gặp Thế A đang đi bộ đến nhà anh T5. Bị cáo và B để tủ lạnh tại chân dốc rồi quay lại nhà anh T5, tiếp tục trộm cắp 01 kệ tivi bằng gỗ hương đá và một vài chai rượu đặt lên xe rùa, cùng nhau đẩy về vị trí đặt tủ lạnh dưới chân dốc. Sau đó Thế A bảo bị cáo đem xe rùa quay lại nhà anh T5 cho Thế A để Thế A đẩy xe rùa chứa máy giặt đem về cửa bếp của nhà Thế A. Sáng hôm sau H3 chở đồ trộm cắp đến nhà bị cáo.
Bị cáo B trình bày Tòa sơ thẩm xét xử bị cáo không oan sai, việc bị cáo trộm cắp như bị cáo S trình bày là đúng. Tối mùng 03/02 bị cáo và bị cáo S có mặt tại nhà Thế A, một lúc sau có anh Nguyễn Văn L (anh vợ bị cáo Thế A) đến chơi nên Thế A bảo bị cáo S và bị cáo đi trước trộm cắp tài sản nhà anh T5, sau đó bị cáo cũng nhìn thấy bị cáo Thế A cũng có mặt tại nhà T5 đêm hôm đó. Sáng hôm sau (ngày 04/02), bị cáo lên nhà bị cáo Thế A thấy chiếc máy giặt của nhà anh T5 để tại nhà bị
cáo Thế A.
Bị cáo S và bị cáo B trình bày thêm khi bị cáo Thế A gọi điện rủ bị cáo đi trộm cắp, các bị đều dùng sim rác, sau đó lại hủy bỏ sim nên các bị cáo không nhớ sim số điện thoại nào. Chiếc điện thoại của bị cáo S và bị cáo B dùng liên lạc đã bị rơi mất, hiện không biết ở đâu.
Bị cáo H3 khẳng định cấp sơ thẩm xử bị cáo đúng người, đúng tội nhưng bị cáo thay đổi lời khai cho rằng bị cáo Thế A không bảo bị cáo đi chở đồ trộm cắp mà là bị cáo S bảo bị cáo chở máy giặt từ nhà Thế A sang nhà S.
Các bị cáo Vũ Văn S, Hoàng Văn B và bị cáo Hà Mạnh H3 đều khẳng định hàng ngày bị cáo Thế A sử dụng xe Wave do Trung Quốc sản xuất màu đỏ. Bị cáo B và bị cáo H3 khẳng định chiếc xe này do chị H4 cho bị cáo Thế A.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 21/02/2025 anh Chu Đình T3 khai trước đây có ở cùng bị cáo Thế A nhưng do mâu thuẫn với Thế A nên đã chuyển đi từ cuối năm 2022. Anh T3 không biết, không liên quan gì đến các hành vi trộm cắp của các bị cáo Kiều Thế A, Vũ Văn S, Hoàng Văn B.
Tại phiên tòa ngày 24/02/2025 chị Nguyễn Thị Yến H4 trình bày: chị ở cách nhà Thế A khoảng 200 m, chị có chiếc xe Wave do Trung Quốc sản xuất màu đỏ đã cũ, giấy tờ bị mất (chị không nhớ biển kiểm soát). Kiều Thế A tên gọi khác là T ở cùng Hà Mạnh H3, do Thế A và H3 hay giúp chị khuân vác những đồ nặng nên chị cho bị cáo Thế A mượn chiếc xe từ tháng 11 năm 2023 đến khoảng giữa tháng 2 năm 2024 thấy Thế A bảo đi xe về quê đến cây số 4 bị công an giao thông thu giữ xe do không có giấy tờ. Chị xác định cho Thế A chiếc xe này, hiện tại chiếc xe đang ở đâu chị không biết, do xe đã cũ nên chị không có đề nghị gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc giữ quyền công tố tại phiên tòa phúc thẩm phát biểu quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 355, Điều 356, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Kiều Thế A, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm 131/2024/HS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc về phần hình phạt đối với bị cáo KIều Thế A; Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo H, sửa bản án hình sự sơ thẩm 131/2024/HS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc về phần hình phạt đối với bị cáo H. Giữ nguyên mức hình phạt 01 năm tù nhưng cho bị cáo H hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Kiều Thế A và bị cáo Nguyễn Thị H trong thời hạn luật định, hợp lệ được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét nội dung đơn kháng cáo của bị cáo Kiều Thế A cho rằng quá trình điều tra, Điều tra viên có hành vi ép cung, nhục hình, đánh đập bị cáo, bắt bị cáo phải viết đơn xin đầu thú ngày 26/02/2024 và ký nhận Biên bản lấy khai ngày 26/02/2024 với nội dung không đúng sự thật.
Hội đồng xét xử thấy, ngày 26/02/2024 bị cáo làm việc tại cơ quan điều tra và ngày 27/02/2024 bị cáo được khám sức khỏe tại Trung tâm y tế thành phố V. Nếu bị cáo bị đánh đập thì phải có thương tích và bị cáo phải kê khai để các bác sỹ khám, chữa cho bị cáo vì tại Trung tâm y tế thành phố V có các y bác sỹ, không ai đánh đập, cưỡng bức gì bị cáo nhưng tại phần kê khai của người được khám, bị cáo không kê khai thương tích gì và kết quả khám nội, ngoại khoa xác định sức khỏe bị cáo bình thường, trên thân thể không có thương tích gì (BL 543 - BL 545). Ngày 12/3/2024, khi chuyển bị cáo vào Trại tạm giam công an tỉnh V, bị cáo được khám sức khỏe và kết quả tại Phiếu khám sức khoẻ người bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh V ngày 12/3/2024 (BL 542) thể hiện: tại mục II tình trạng sức khỏe: Bình thường; Bệnh ngoài da, các bệnh khác: Không. Tại phiếu khám sức khỏe có còn mô tả: “Xăm ngực bên (T), cánh tay (T), găm 01 viên bị ở dương vật và trên thân thể bị cáo không có thương tích”, bị cáo cũng ký xác nhận trên Phiếu này. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai không được khám cụ thể, chi tiết nhưng với phần nội dung mô tả ghi trên Phiếu khám sức khỏe thể hiện các bác sỹ đã khám đầy đủ, cụ thể và chi tiết trên cơ thể bị cáo và xác định không có thương tích gì, sức khỏe bình thường. Điều này xác định việc bị cáo Kiều Thế A khai bị điều tra viên đánh đập, ép cung, dùng nhục hình là không có căn cứ. Tại phiên tòa các bị cáo Vũ Văn S, Hoàng Văn B, Hà Mạnh H3, Nguyễn Thị H và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và hợp pháp.
[2.2] Xét nội dung đơn kháng cáo của bị cáo Kiều Thế A cho rằng bị cáo bị oan, không tham gia trộm cắp tài sản vào các ngày 18/01/2024, 19/01/2024 và ngày 03/02/2024.
Hội đồng xét xử thấy: Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Thế A đề nghị triệu tập anh Phan Văn T6 vì anh T6 biết và chứng minh bị cáo không tham gia trộm cắp
cùng bị cáo S. Hội đồng xét xử sơ thẩm triệu tập anh Phan Văn T6 và tại phiên tòa sơ thẩm anh Phan Văn T6 khẳng định bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T bắt tạm giữ, tạm giam trong một vụ án khác vào ngày 06/01/2024 nên hoàn toàn không biết sự việc xảy ra đối với Kiều Thế A vào các ngày 18, 19 tháng 01 năm 2024 và 03/02/2024. Do đó lời khai bị cáo Thế A ngoại phạm vào các ngày 18, 19 tháng 01 năm 2024 và 03/02/2024 là không có căn cứ.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Thế A khai anh Chu Đình T3 trộm cắp cùng bị cáo S và đề nghị triệu tập các bị cáo Vũ Văn S, Hoàng Văn B, Hà Mạnh H3 ra tòa để minh oan cho bị cáo. Bị cáo Thế A xác định hàng ngày bị cáo không sử dụng chiếc xe Wave do Trung Quốc sản xuất màu đỏ, bị cáo sử dụng xe click của vợ. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Vũ Văn S, Hoàng Văn B và bị cáo Hà Mạnh H3 đều trình bày sau khi tòa án xét xử sơ thẩm, các bị cáo không gặp bị cáo Kiều Thế A và không có trao đổi gì với bị cáo Thế A. Bị cáo S khẳng định bị cáo Thế A tham gia trộm cắp cùng bị cáo vào các ngày 18, 19/01/2024 và 03/02/2024, anh Chu Đình T3 không tham gia trộm cắp cùng bị cáo. Bị cáo B khẳng định bị cáo tham gia trộm cắp nhà anh T5 ngày 03/02/2024 và hôm đó có mặt bị cáo Thế A tại nhà anh T5. Anh Chu Đình T3 khai không biết, không liên quan gì đến các hành vi trộm cắp của các bị cáo. Chị Nguyễn Thị Yến H4 xác định chiếc xe Wave do Trung Quốc sản xuất màu đỏ là của chị và chị cho Thế A sử dụng từ tháng 11/2023 và đến cuối tháng 02/2024 Thế A nói với chị khi tham gia giao thông bị công an giữ do không có giấy tờ. Riêng bị cáo H3 thay đổi lời khai cho rằng bị cáo Thế A không bảo bị cáo chở máy giặt từ nhà Thế A đến nhà S. Tuy nhiên lời khai này không có căn cứ vì, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo H3 khai ở cùng bị cáo Thế A, giúp Thế A trồng cây và được bị cáo Thế A trả lương. Như vậy, mọi việc làm của bị cáo H3 cần có sự chỉ bảo của bị cáo Thế A nên bị cáo H3 không thể tự ý chở máy giặt từ nhà Thế A sang nhà S theo sự chỉ bảo của S mà không có sự đồng ý hay chỉ đạo của bị cáo Thế A. Từ đó, xác định lời khai của bị cáo H3 tại phiên tòa phúc thẩm không khách quan, không phù hợp với với khai của bị cáo H3 tại cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm nên không được chấp nhận.
Từ những phân tích trên, cho thấy bị cáo Thế A luôn quanh co chối tội nhưng căn cứ vào đơn xin đầu thú ngày 26/02/2024 (BL383-BL384), biên bản lấy lời khai ngày 26/02/2024 (BL381-BL 382) của Kiều Thế A cũng như lời khai nhận tội của các bị cáo Vũ Văn S, Hoàng Văn B, Hà Mạnh H3, Nguyễn Thị H và kết quả đối chất giữa các bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm; lời khai của người bị hại chị Hoàng Thị M, anh Hà Quốc T5; người làm chứng anh Nguyễn Văn L, anh Phan Văn T6, anh Chu Đình T3, chị Nguyễn Thị Yến
H4 và các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập khách quan trong hồ sơ như: Biên bản khám xét khẩn cấp ngày 06/02/2024 tại nơi ở của Hoàng Văn B và Vũ Văn S; Biên bản khám nghiệm hiện trường; Biên bản chỉ dẫn nơi thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo S, bị cáo B và bị hại chị M, anh T5 có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 18/01/2024 đến ngày 03/02/2024, Kiều Thế A gọi điện rủ Vũ Văn S và Hoàng Văn B thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn phường K, thành phố V. Cụ thể:
Vụ 1: Tối ngày 18/01/2024, tại biệt thự thuộc Khu đô thị V thuộc tổ dân phố T, phường K, thành phố V của gia đình chị Hoàng Thị M, Kiều Thế A và Vũ Văn S đã trộm cắp 01 máy sấy quần áo nhãn hiệu Beko và 01 máy điều hòa nhãn hiệu Daikin có tổng trị giá là 13.300.000đ.
Vụ 2: Sáng ngày 19/01/2024, Kiều Thế A và Vũ Văn S tiếp tục đến biệt thự của gia đình chị M trộm cắp tivi nhãn hiệu Xiaomi, loại 75inch có giá trị là 13.600.000đ cùng một số quần áo cũ không có giá trị.
Vụ 3: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 03/02/2024, tại nhà của anh Hà Quốc T5 ở khu vực N tổ dân phố T, phường K, thành phố V, Kiều Thế A và Vũ Văn S đã trộm cắp máy giặt sấy nhãn hiệu Electrolux nhưng sợ trời sáng bị phát hiện nên Thế A và S đã để lại tài sản trên ở nhà anh T5. Khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, Kiều Thế A rủ Vũ Văn S, Hoàng Văn B quay lại nhà anh T5 trộm cắp tài sản. Tại đây, các đối tượng đã trộm cắp 01 tủ lạnh nhãn hiệu LG, 01 kệ tivi bằng gỗ hương đá, 01 chai rượu nhãn hiệu ROYAL SALUTE 21, 01 chai rượu CHIVAS REGAL 18, 01 chai rượu THE GLENLIVET có tổng giá trị là 24.100.000 đồng. Riêng Thế A và S, sau khi B đã rời khỏi nhà anh T5 còn tiếp tục trộm cắp chiếc máy giặt sấy nhãn hiệu Electrolux được định giá 9.000.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản trộm cắp của cả ba vụ là 60.000.000 đồng, trong đó Thế A và S cùng nhau thực hiện 3 vụ trộm cắp, còn B tham gia 01 vụ có giá trị tài sản chiếm đoạt là 24.100.000 đồng.
Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên xét xử bị cáo Kiều Thế A về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, không oan sai và tuyên phạt bị cáo 03 năm 06 tháng tù là phù hợp tính chất, mức độ hành vi, hậu quả xảy ra và nhân thân của bị cáo. Vì vậy, kháng cáo kêu oan của bị cáo Kiều Thế A không được Hội đồng xét xử chấp nhận, cần giữ nguyên mức hình phạt cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo Kiều Thế A như đề nghị của viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm.
[2.3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thị H, Hội đồng xét xử thấy: Khi xét xử, cấp sơ thẩm đã cân nhắc các tình
tiết tăng nặng, giảm nhẹ để tuyên phạt bị cáo H 01 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo H nộp đơn xác nhận hoàn cảnh gia đình neo đơn, khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, hiện tại bị cáo đang một mình nuôi con còn nhỏ (cháu Vũ Phúc L1, sinh ngày 08/7/2020). Bị cáo phạm tội tiêu thụ tài sản do chính chồng bị cáo trộm cắp và trong vụ án này chồng bị cáo đã bị tạm giam. Đây là những tình tiết mới phát sinh tại phiên tòa phúc thẩm mà cấp sơ thẩm chưa xem xét khi lượng hình nên Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận một phần kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo để tạo điều kiện cho bị cáo được ở ngoài nuôi dạy con nhỏ và yên tâm cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo như đề nghị của viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm.
[3] Đối với xe máy nhãn hiệu Wave do Trung Quốc sản xuất màu đỏ, không rõ biển kiểm soát, tại phiên tòa phúc thẩm xác định là của chị Nguyễn Thị Yến H4 cho bị cáo Thế A. Quá trình điều tra xác định bị cáo Kiều Thế A sử dụng làm phương tiện phạm tội, do bị cáo Thế A không hợp tác nên hiện chưa xác định được xe máy này ở đâu. Cơ quan điều tra chưa thu giữ được, cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, khi nào rõ xử lý sau.
Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 thu giữ của Kiều Thế A, tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo S và B khẳng định các bị cáo và Thế A khi gọi rủ đi trộm cắp đều dùng sim sác sau đó hủy bỏ. Bị cáo Thế A khẳng định chỉ sử dụng duy nhất 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 từ tháng 11/2023 cho đến khi công an thu giữ nên cấp sơ thẩm tuyên tịch thu sung quỹ chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 là có căn cứ.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc là phù hợp với quy định của pháp luật nên được xem xét chấp nhận.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Thế A không được chấp nhận kháng cáo nên phải chịu án phí. Bị cáo H được chấp nhận kháng cáo nên không phải chịu án phí;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Kiều Thế A, giữ nguyên mức hình phạt tại Bản án hình sự sơ thẩm số 131/2024/HS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đối với bị cáo Kiều Thế A;
- Chấp nhận một phần kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thị H, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 131/2024/HS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị H.
Tuyên bố: Bị cáo Kiều Thế A phạm tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự
Xử phạt bị cáo Kiều Thế A 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 26/02/2024.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; khoản 1,2 và 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 24/02/2025)
Giao bị cáo Nguyễn Thị H cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về án phi:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Kiều Thế A phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 322.900 đồng (ba trăm hai nghìn chín trăm đồng) án phí dân sự trong án hình sự và 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Nguyễn Thị H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đã ký Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |
Bản án số 15/2025/HS-PT ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 15/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
