Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:15/2025/HS-ST

Ngày: 21/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG -TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhan .

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trung Bắc và bà Nguyễn Thị Hà.

Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Xuân - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 172/2024/HSST ngày 02/12/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/HSST-QĐ ngày 10/02/2025, đối với các bị cáo:

  1. Bùi Văn K, sinh năm 2003; ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn T, xã T, thị xã K, Hải Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Bùi Văn D và bà Nguyễn Thị A; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Quyết định số 207 ngày 23/9/2022, Công an thành phố H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích bằng hình thức phạt tiền. Nộp phạt ngày 23/9/2022. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 17/9/2024 hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.
  2. Nguyễn Vũ Khắc H, sinh năm 2002; ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn X, xã Q, thị xã K, tỉnh Hải Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Khắc Đ và bà Vũ Thị T; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 17/9/2024 hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.

- Bị hại: Anh Triệu Tiến Đ1, sinh năm 2002; Hiện cư trú tại: Thôn A, xã C, huyện E, Đắk Lắk. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • + Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1986; Hiện cư trú tại: Thôn N, xã L, thị xã K, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt.
  • + Ông Bùi Văn D, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1980; Hiện đều cư trú tại: Thôn T, xã T, thị xã K, Hải Dương. Có mặt.

- Người làm chứng: Anh Trần Văn C, anh Vũ Hồng S đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Văn K và Nguyễn Vũ Khắc H có quen biết nhau từ trước. Trước đó, K thấy tài khoản Facebook tên “Đinh Anh S1” (hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch) có đăng thông tin bán tobaco (một loại ma tuý cỏ có dạng sợi giống thuốc lào), K nảy sinh ý định mua “cỏ” của người này để bán lại kiếm lời. Sáng ngày 21/7/2024, K sử dụng tài khoản Facebook tên “Đ” và “Nguyễn H” đăng thông tin bán “cỏ”. Khoảng 21 giờ cùng ngày, khi K và H đang ngồi uống nước ở khu vực siêu thị L1 tại thị xã K, tỉnh Hải Dương thì anh Trần Văn C sử dụng tài khoản facebook “Chương con” nhắn tin đến tài khoản facebook “Nguyễn H” với nội dung “alo anh cho em mua ít ma túy cỏ”. K nhắn lại “Anh có, em đến địa chỉ ngõ A N, phường T, thành phố H để lấy hàng”. Sau đó, K liên hệ với tài khoản facebook “Đinh Anh S1” hỏi mua “cỏ” nhưng người này không nghe máy, K nói với H “Tí nữa có một thằng đến mua cỏ, để xem mặt nó như nào có gì tao với mày bán cho nó”, H đồng ý rồi điều khiển xe máy hiệu Honda AirBlade màu hồng, không đeo biển số (là xe Khang mượn của anh Vũ Hồng S) chở K đi đến thành phố H. Trên đường đi, tài khoản facebook “Đinh Anh S1” thông báo không có “cỏ” để bán nên K nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của anh C để bán lấy tiền chi tiêu. K nói với H “Tí nữa không có cỏ bán rồi, để tao mượn điện thoại của thằng kia xong tao lấy, mày đứng ở trên một đoạn, tao lấy điện thoại xong thì tao với mày đi bán”, H đồng ý và chở K đến đầu ngõ A N, phường T, thành phố H. Tại đây, K xuống xe đứng đợi anh C còn H điều khiển xe máy đến khu vực ngã ba giao giữa đường N và đường V, phường T, thành phố H đứng chờ.

Khoảng 23 giờ cùng ngày, anh Triệu Tiến Đ1 điều khiển xe máy hiệu Honda Winner X biển số 34B4 - 876.00 chở anh C đến khu vực đầu ngõ A N, phường T để gặp K. Khi đó, K nói “mua cỏ đúng không”, anh C nói “vâng, em nhắn tin mua cỏ qua Facebook “Chương con” đây”. K nói “Tí đi vào đây, tao trọ ở trong này”, anh C và anh Đ1 dắt xe máy đi theo K vào bên trong ngõ 180 Nguyễn Thị D1. Khi cách đầu ngõ khoảng 25m, K nói với anh Đ1 “cho anh mượn điện thoại của em để anh bảo người mang hàng đến”, mục đích K hỏi mượn là để chiếm đoạt chiếc điện thoại của anh Đ1. Do tin tưởng, anh Đ1 mở mật khẩu, đưa chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu xám, dung lượng 256Gb, bên trong lắp sim số 0971.905.229 cho K mượn. K cầm chiếc điện thoại, giả vờ bấm số để gọi điện thoại và nói “Tao đang ở đầu ngõ, mày cứ xuống đây” (thực tế K không gọi cho ai) rồi K vừa cầm điện thoại của anh Đ1 vừa đi nhanh ra khu vực đầu ngõ 180 Nguyễn Thị D1. Nghi ngờ K chiếm đoạt chiếc điện thoại của mình, anh Đ1 và anh C đi theo phía sau, cách K khoảng 10m thì K chạy nhanh ra chỗ H đang đứng chờ. Thấy vậy, H điều khiển xe máy quay lại đón K rồi tăng ga bỏ chạy, anh Đ1 điều khiển xe máy chở anh C đuổi theo nhưng không đuổi được. Sau khi chiếm đoạt được chiếc điện thoại, H chở K đi về nhà H ở thôn X, xã Q, thị xã K, cả hai thống nhất, K là người cất giữ chiếc điện thoại để ngày hôm sau sẽ mang đi bán lấy tiền chi tiêu chung. Đến khoảng 8 giờ 30 phút ngày 22/7/2024, K và H đi đến cửa hàng điện thoại Hoàng Nam M của anh Nguyễn Văn L, ở xã L, thị xã K, K nói chiếc điện thoại là của K và đồng ý bán cho anh L với số tiền 2.500.000 đ. Sau đó, cả hai cầm tiền đi chơi điện tử tại quán “Tuổi Game” ở đường V, phường T, thành phố H. Cùng ngày, anh Đ1 có đơn trình báo đến Công an phường T, thành phố H. Khi H và K đang ngồi chơi điện tử thì bị lực lượng Công an phường T yêu cầu về trụ sở làm việc.

Ngày 22/7/2024, Công an phường T chuyển hồ sơ đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố H giải quyết theo quy định. Quá trình làm việc, K tự nguyện giao nộp số tiền 2.500.000đ, 01 xe máy hiệu Honda Airblade màu hồng, không đeo biển số và trả lại 01 sim điện thoại số 0971.905.xxx cho anh Đ1. Ngày 23/7/2024, anh L tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu xám, dung lượng 256Gb cho Cơ quan CSĐT- Công an thành phố H.

Tại Kết luận định giá tài sản số 41/KL-HĐĐG ngày 02/8/2024, Hội đồng định giá tài sản- UBND thành phố H kết luận: Giá trị của 01 điện thoại Iphone 12 Promax, màu xám, 256Gb là 10.500.000đ.

Tại Kết luận giám định số 180/KL-KTHS ngày 18/9/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H, kết luận: Các tờ tiền gửi giám định là tiền thật.

Về vật chứng: Cơ quan CSĐT- Công an thành phố H đã trả lại 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu xám, dung lượng 256Gb cho anh Triệu Tiến Đ1; trả lại 01 xe máy hiệu Honda Airblade màu hồng không đeo biển số cho anh Vũ Hồng S. Đối với số tiền 2.500.000đ do K tự nguyện giao nộp là tiền thật được đựng trong phong bì niêm phong số 180/KL-KTHS hiện đang được quản lý Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Dương.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Đ1 đã nhận lại chiếc điện thoại Iphone 12 Promax, 01 sim điện thoại và đã được gia đình bị cáo K tự nguyện bồi thường số tiền 11.500.000₫, anh Nguyễn Văn L được gia đình bị cáo K hoàn trả số tiền 2.500.000đ. Anh Đ1 và anh L không yêu cầu gì về bồi thường dân sự.

Tại Cáo trạng số 168/CT-VKSTPHD, ngày 29/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố bị cáo Bùi Văn K và Nguyễn Vũ Khắc H về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt. Do khi bị bắt K đã tự nguyện giao nộp số tiền bán điện thoại được cho Công an mục đích để trả lại anh L nhưng bố mẹ bị cáo đã trả số tiền này cho anh L do vậy đề nghị Tòa án xem xét trả lại số tiền 2.500.000₫ cho bố mẹ bị cáo là ông D, bà A.

Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông D, bà A xác định K đã nhờ ông bà bồi thường giúp cho bị hại tiền tổn thất tinh thần. Ông bà không yêu cầu K phải trả lại số tiền này cho ông bà, đề nghị trả lại số tiền 2.500.000₫ cho ông bà.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn K và Nguyễn Vũ Khắc H phạm tội “Cướp giật tài sản”; Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s, khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo, thêm điểm b khoản 1 Điều 51 đối với bị cáo K; Xử phạt bị cáo Bùi Văn K từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 17/9/2024); Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ Khắc H từ 14 tháng tù đến 17 tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 17/9/2024); Về trách nhiệm dân sự: Không phải giải quyết; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Về vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại gia đình ông Doanh số tiền 2.500.000đ; Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng: Hành vi, quyết định Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về căn cứ chứng minh hành vi phạm tội:

    Lời khai các bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận giám định, định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Do có ý định từ trước, khoảng 23 giờ ngày 21/7/2024 tại khu vực ngõ A N, phường T, thành phố H, Bùi Văn K và Nguyễn Vũ Khắc H giả vờ mượn 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu xám, dung lượng 256Gb của anh Triệu Tiến Đ1 để sử dụng. Sau khi anh Đ1 tin tưởng, giao chiếc điện thoại, K và H lợi dụng sơ hở, nhanh chóng cầm chiếc điện thoại trên tẩu thoát. Giá trị tài sản chiếm đoạt là 10.500.000 đồng.

    Hành vi của các bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm vào quyền sở hữu tài sản của công dân và quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời còn ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an, gây dư luận xấu trong xã hội. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi vi phạm pháp luật nhưng vì ý thức coi thường pháp luật nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Các bị cáo dùng thủ đoạn gian dối tiếp cận tài sản rồi nhanh chóng chiếm đoạt tài sản của anh Đ1. Giá trị tài sản chiếm đoạt là 10.500.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

    Về tính chất đồng phạm: Trong vụ án này bị cáo K là người khởi xướng, trực tiếp thực hiện hành vi. Bị cáo H sau khi được đề xuất đã tiếp nhận ý chí của K, giúp sức cho K để nhanh chóng tẩu thoát. HĐXX đánh giá K có vai trò cao hơn H.

  3. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Ngày 23/9/2022, bị cáo K đã bị Công an thành phố H xử phạt vi phạm hành chính, tính đến ngày thực hiện hành vi đã được xóa nên không xác định là tiền sự đối với bị cáo. Quá trình điều tra các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và K đã tác động gia đình bồi thường cho anh Đ1 nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo K đã tác động nhờ gia đình bồi thường cho bị hại nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

    Cân nhắc tính chất hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX xét thấy cần áp dụng một hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt biết tôn trọng, chấp hành pháp luật và phòng ngừa chung trong xã hội.

  4. Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có tài sản gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  5. Về trách nhiệm dân sự: Anh Đ1 đã nhận lại chiếc điện thoại và sim điện thoại và đã được gia đình bị cáo K tự nguyện bồi thường số tiền 11.500.000đ tổn thất tinh thần, anh Nguyễn Văn L được gia đình bị cáo K hoàn trả số tiền 2.500.000đ. Anh Đ1 và anh L không yêu cầu gì về bồi thường dân sự. Số tiền bồi thường cho Đ1, gia đình K không yêu cầu K, H trả lại nên HĐXX không xem xét giải quyết.
  6. Về vật chứng: Cơ quan CSĐT- Công an thành phố H đã trả lại 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax cho anh Đ1; trả lại 01 xe máy hiệu Honda Airblade cho anh Vũ Hồng S. Đối với số tiền 2.500.000₫ do K tự nguyện giao nộp do K đã tác động gia đình hoàn trả anh L nên cần trả lại cho K số tiền 2.500.000đ. Tuy nhiên số tiền này là do ông D, bà A bỏ ra thay bị cáo, bị cáo đề nghị Tòa án trả lại số tiền này cho ông D, bà A, ông D, bà A nhất trí nên cần trả lại số tiền này cho ông D, bà A.
  7. Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  8. Về vấn đề khác: Quá trình điều tra, không làm rõ được tên, tuổi, địa chỉ của người sử dụng tài khoản facebook có tên “Đinh Anh S1”, việc mua bán “cỏ” giữa bị can Bùi Văn K với tài khoản facebook “Đinh Anh S1” và anh Trần Văn C vào ngày 21/7/2024 không xảy ra, không thu giữ được vật chứng; anh Nguyễn Văn L không biết chiếc điện thoại là tài sản do K phạm tội mà có, anh Vũ Hồng S không biết K sử dụng xe máy để thực hiện hành vi phạm tội nên không có căn cứ xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 171, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo, (thêm điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo K); Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí sô 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Bùi Văn K và Nguyễn Vũ Khắc H phạm tội "Cướp giật tài sản".
  2. Về hình phạt:
    • 2.1. Xử phạt bị cáo Bùi Văn K 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 17/9/2024).
    • 2.1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ Khắc H 14 (Mười bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 17/9/2024).
  3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

    Hoàn trả ông Bùi Văn D và bà Nguyễn Thị A số tiền 2.500.000đ (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự TP Hải Dương ngày 11/02/2025).

  4. Về án phí: Buộc các bị cáo Bùi Văn K và anh Nguyễn Vũ Khắc H mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21/02/2025). Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - VKSND thành phố Hải Dương;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Cơ quan CSĐT- Công an TP Hải Dương;
  • - Chi cục THADS thành phố Hải Dương;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Nhan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự - cướp giật tài sản

  • Số bản án: 15/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn K cùng đồng phạm - cướp giật tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger