Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁI THỤY

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HS-ST

Ngày: 21/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thùy Dung;

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Vũ Thị Thúy – Phó hiệu trưởng Trường Tiểu học và THCS Thụy Hà, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình;
  • Ông Ngô Văn Sang – Nguyên Chủ tịch Hội nông dân thị trấn Diêm Điền, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nhật Khánh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST- HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 đối với:

  1. Bị cáo Vũ Quang H, sinh ngày 08/11/2002; Nơi cư trú: Thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông Vũ Khắc V, sinh năm 1968 và bà Vũ Thị T, sinh năm 1969; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ từ ngày 24/11/2024 đến ngày 29/11/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T; Trích xuất có mặt tại phiên tòa.
  2. Bị cáo Sừng Chin S, sinh ngày 30/3/2008; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản P, xã P, huyện M, tỉnh Lai Châu; Nơi ở hiện nay: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: La Hủ; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Sừng Hà C, sinh năm 1984 và bà Ly Pé X, sinh năm 1984; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ từ ngày 24/11/2024 đến ngày 29/11/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T; Trích xuất có mặt tại phiên tòa.

* Người đại diện hợp pháp của bị cáo Sừng Chin S: Anh Sừng Hà C, sinh năm 1984 và chị Ly Pé X, sinh năm 1984; Đều có nơi cư trú: Bản P, xã P, huyện M, tỉnh Lai Châu (Đều vắng mặt)

* Người bào chữa cho bị cáo Sừng Chin S: Bà Phan Thị Minh H1 – Trợ giúp viên pháp lý tại Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T (Có mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị M – sinh năm 1961; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; Nơi ở hiện tại: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 23/11/2024, trong lúc H và S ngồi ăn tối cùng nhau, H rủ S sau khi ăn xong đến nhà nghỉ N, thuộc địa phận thôn L, xã T để sử dụng ma tuý, S đồng ý. Sau khi ăn xong, cả hai đến nhà nghỉ N, H thuê phòng rồi cả hai đi lên phòng 401. Lúc sau H xuống, đi bộ về hướng xã M để tìm mua ma tuý. Tại đây, H gặp một nữ giới khoảng 30 tuổi, H không biết tên, tuổi địa chỉ và mua được 02 viên thuốc lắc (được đựng trong 01 túi nilon trong suốt, mép túi có gờ cài, viền màu xanh) và 01 túi ketamine với giá 2.000.000 đồng. Mua xong, H cất ma tuý vào túi quần bên trái phía trước đang mặc rồi quay lại nhà nghỉ. Khi lên phòng, H đi qua gian bếp của nhà nghỉ lấy 01 đĩa sứ màu trắng rồi mang lên phòng 401, sau đó đặt đĩa trên giường và bỏ 02 túi đựng ma tuý lên mặt bàn cạnh giường. H lấy 01 viên thuốc lắc bẻ đôi, H đưa S một nửa, H sử dụng một nửa viên còn lại. Su dùng điện thoại của S mở nhạc sàn để cả hai nằm nghe nhạc. Được khoảng 15 phút, S lấy viên thuốc lắc còn lại bẻ thành hai nửa, rồi S bẻ tiếp một nửa viên đó thành 1/4 viên. H và S mỗi người sử dụng hết 1/4 viên thuốc lắc này, còn một nửa viên Su cất vào túi nilon ban đầu để trên giường. Cả hai nghe nhạc được khoảng 30 phút thì H ngồi dậy, đưa cho S 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng và bảo S cuộn ống hút. Su bóc 03 vỏ đầu lọc thuốc lá Thăng L rồi cố định tờ tiền 100.000 đồng thành ống hút. Trong lúc Su cuộn ống hút, thì H cầm đĩa sứ và bật lửa đi vào nhà vệ sinh đốt nóng đĩa. Sau khi đĩa đủ nóng, H mang đĩa ra đặt ở mép giường. S cầm túi ketamine đổ ra đĩa, rồi dùng miếng nhựa gắn chìa khoá phòng miết cho ketamine mịn ra. H lấy ảnh thẻ chụp chân dung của H đưa cho S để S kẻ ke. Su dùng ảnh chân dung H đưa kẻ hai đường ketamine trên đĩa. Sau khi kẻ xong, S cầm đĩa đưa H và S bật flash điện thoại soi đèn cho H sử dụng. Sau khi H sử dụng hết hai đường ketaime, S tự kẻ hai đường và cầm đĩa lên. H cầm điện thoại và soi đèn cho S sử dụng hết 2 đường ke đó. Sử dụng xong, cả hai lại tiếp tục nằm nghe nhạc cho đến khi lực lượng Công an vào kiểm tra. Phát hiện trên mặt đệm giường có 01 đĩa sứ hình tròn, màu trắng viền màu cam, mặt đĩa có hoa văn nhiều màu sắc, trên mặt đĩa có bám dính chất bột màu trắng, dưới đáy đĩa có ám muội màu đen, cùng trên mặt đĩa có 01 ống hút được cuộn bằng tờ tiền polymer mệnh giá 100.000 đồng được cố định bằng 03 vỏ đầu lọc thuốc lá màu vàng, bên trong ống hút có bám dính chất bột màu trắng; 01 ảnh chân dung của Vũ Quang H, kích thước 5,4x3,8 centimet; 01 túi nilon trong suốt có mép gờ cài viền màu xanh, bên trong có 01 mảnh viên nén màu xanh, bên cạnh đĩa có 01 bật lửa ga bằng nhựa màu vàng; 01 túi nilon trong suốt có mép gờ cài viền màu xanh và 01 thẻ nhựa màu trắng, trên mặt có chữ “NHÀ NGHỈ NAM TRUNG 401”. Ngoài ra Công an còn quản lý điện thoại của H và S. Tổ công tác tiến hành kiểm tra người của H và S không phát hiện thu giữ gì. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của H và S nhưng không phát hiện thu giữ gì.

Kết luận giám định số 1733/KL-KTHS ngày 29/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: “Trong mẫu nước tiểu Mẫu số M1 (của Vũ Quang H), Mẫu số M2 (của Sừng C) đều tìm thấy ma túy, sản phẩm chuyển hóa của hai loại ma túy Ketamine và M1.”

Bản kết luận giám định số 1732/KL-KTHS ngày 29/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:

“01 mảnh viên nén màu xanh được niêm phong trong phong bì niêm phong Mẫu số A1 là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,2190 gam (Không phẩy hai nghìn một trăm chín mươi gam).

Chất bột màu trắng bám dính trên mặt đĩa sứ được niêm phong trong phong bì Mẫu số A2 là ma túy, loại Ketamine, không xác định được khối lượng bám dính.

Chất bột màu trắng bám dính bên trong ống hút được niêm phong trong phong bì niêm phong Mẫu số A3 là ma túy, loại Ketamine, không xác định được khối lượng bám dính.

Methamphetamine STT: 247 Danh mục IIC, phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ

Ketamine STT: 40, Danh mục III, phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày Phủ”

Bản cáo trạng số 27/CT-VKSTT ngày 21/01/2025 truy tố bị cáo Vũ Quang H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự, truy tố bị cáo Sừng Chin S về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trong bản Cáo trạng và xin HĐXX xử phạt các bị cáo mức án thấp nhất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị tuyên bố các bị cáo Vũ Quang H và Sừng C1 Su phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Về hình phạt, đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Vũ Quang H từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù; Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự xử phạt Sừng Chin Su từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị tuyên về xử lý vật chứng và án phí theo quy định của pháp luật.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Sừng Chin S phát biểu quan điểm: Hành vi của bị cáo S là vi phạm pháp luật, bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, tuy nhiên đề nghị HĐXX xem xét bị cáo là người chưa thành niên, nhận thức pháp luật còn hạn chế, đây là lần đầu phạm tội và được hưởng những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo mức án thấp nhất. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, thuộc hộ nghèo, cư trú tại vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và không có công việc, thu nhập ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí đối với bị cáo. Bị cáo S nhất trí với quan điểm của người bào chữa.

Các bị cáo đều không tranh luận gì và nói lời sau cùng: Các bị cáo thấy việc làm của mình là sai, mong Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt nhẹ nhất cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là đều hợp pháp.

Những người đại diện hợp pháp của bị cáo Sừng Chin S đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, tại biên bản làm việc ngày 25/11/2024, những người đại diện hợp pháp của bị cáo S trình bày không thể tham gia tố tụng và đề nghị Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo S. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, Hội đồng xét xử thấy có đủ lời khai của họ tại Cơ quan điều tra, áp dụng Điều 293, Điều 423 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Tại phiên toà, các bị cáo Vũ Quang H và Sừng Chin S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã xác định. Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, và còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 22 giờ ngày 23/11/2024; các biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T lập tại nhà nghỉ N ngày 23/11/2024; Biên bản xác định hiện hiện trường, sơ đồ hiện trường, bàn ảnh hiện trường ngày 24/11/2024; Phiếu xác định tình trạng nghiện ma túy của Bệnh viện tâm thần tỉnh T lập ngày 24/11/2024; Kết luận giám định số 1733/KL-KTHS ngày 29/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh T; Bản kết luận giám định số 1732/KL-KTHS ngày 29/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh T cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 22 giờ ngày 23/11/2024, tại phòng nghỉ số D, nhà nghỉ N thuộc địa phận thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình, Vũ Quang H và Sừng Chin S đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, loại M2 và ketamin, thì bị bắt quả tang. Thời điểm phạm tội, bị cáo S 16 tuổi 07 tháng 23 ngày.

[3] Điều 255 Bộ luật Hình sự quy định:

“Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
  2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
    • Phạm tội 02 lần trở lên;
    • Đối với 02 người trở lên;
    • Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi;
  3. ...
  4. 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Do đó Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Vũ Quang H theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung là “Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi”, truy tố bị cáo Sừng Chin S theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

[4] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Các bị cáo không bàn bạc trước và cùng nhau thực hiện hành vi. Trong đó, H là người khởi xướng, tự đi mua 2.000.000 đồng tiền ma túy, đưa M1 cho S sử dụng, lấy đĩa và hơ nóng đĩa, đưa ảnh cho S kẻ ketamine, đưa tiền cho S cuộn ống hút nên giữ vai trò thứ nhất. Bị cáo S là người đưa methamphetamine cho H sử dụng, xào và kẻ ketamin cho H và bản thân sử dụng, có vai trò thấp hơn bị cáo H. Các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước. Ma túy là chất gây nghiện có tác hại nhiều mặt, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người sử dụng, là nguồn phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội. Mặc dù nhận thức được việc mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì ý thức chấp hành pháp luật kém, các bị cáo vẫn bất chấp để thực hiện hành vi phạm tội.

[5] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Tại giai đoạn điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo S là người dân tộc thiểu số, gia đình thuộc hộ nghèo ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Khi phạm tội, bị cáo S 16 tuổi 07 tháng 23 ngày nên được áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[6] Từ những nhận định trên, HĐXX thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi các bị cáo gây ra, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một khoảng thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo cũng như phòng ngừa chung. Do các bị cáo đều lao động tự do, không có tài sản riêng có giá trị, không có thu nhập ổn định, bị cáo Sừng Chin S là người dưới 18 tuổi, thuộc dân tộc thiểu số, gia đình thuộc hộ nghèo, nằm trong vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 mảnh viên nén màu xanh đựng trong 01 túi nilon trong suốt có mép gờ cài viền màu xanh được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1732/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T, Mẫu số A1 là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 đĩa sứ hình tròn, màu trắng viền màu cam được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1732/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T, Mẫu số A2, 01 thẻ nhựa màu trắng, trên mặt có chữ “NHÀ NGHỈ NAM TRUNG 401”, là những tài sản của bà Lê Thị M, chủ nhà nghỉ N, không còn giá trị sử dụng, bà M không có ý kiến gì về những tài sản này, cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 ảnh chân dung của Vũ Quang H, kích thước 5,4x3,8 centimet, 01 bật lửa ga bằng nhựa màu vàng đã qua sử dụng, 01 túi nilon trong suốt có mép gờ cài viền màu xanh, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Trả lại bị cáo Vũ Quang H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ màu đen, đã qua sử dụng, không liên quan đến hành vi phạm tội.
  • - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ màu đỏ, đã qua sử dụng của bị cáo Sừng Chin S do đây là công cụ các bị cáo dùng vào việc sử dụng ma túy.
  • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 tờ tiền loại polymer mệnh giá 100.000 đồng được niêm phong trong phong bì số 1890/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T (đã được chuyển cơ quan thi hành án theo Biên lai thu tiền số 0002904 ngày 21/01/2025)

(Tất cả vật chứng nêu trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan Công an và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thái Thụy ngày 21/01/2025)

[7] Những vấn đề khác trong vụ án:

  • - Bà Lê Thị M là chủ nhà nghỉ N đã cho các bị cáo H và S thuê phòng 401, xét thấy bà M không biết việc các bị cáo sử dụng ma túy, sau khi phát hiện có nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy, bà M đã trình báo cơ quan Công an nên không xử lý bà M là phù hợp.
  • - Đối với người phụ nữ khoảng 30 tuổi tại xã M, huyện T mà H khai đã mua ma túy của người này nhưng H không biết tên, địa chỉ, không nhớ đặc điểm nhận dạng nên cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xử lý.

[8] Về án phí: Bị cáo Vũ Quang H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo Sừng Chin S là người dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo, cư trú nơi có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người bào chữa, những người đại diện hợp pháp của bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Quang H và Sừng Chin S phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt:
    • - Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Vũ Quang H 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/11/2024.
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự xử phạt Sừng Chin Su 01 (Một) năm 09 (C2) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/11/2024.
  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh viên nén màu xanh đựng trong 01 túi nilon trong suốt có mép gờ cài viền màu xanh được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1732/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T, Mẫu số A1; 01 ảnh chân dung của Vũ Quang H, kích thước 5,4x3,8 centimet; 01 bật lửa ga bằng nhựa màu vàng đã qua sử dụng; 01 túi nilon trong suốt có mép gờ cài viền màu xanh.
    • - Tịch thu tiêu hủy 01 đĩa sứ hình tròn, màu trắng viền màu cam được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1732/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T, Mẫu số A2; 01 thẻ nhựa màu trắng, trên mặt có chữ “NHÀ NGHỈ NAM TRUNG 401” của bà Lê Thị M.
    • - Trả lại bị cáo Vũ Quang H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ màu đen, đã qua sử dụng.
    • - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ màu đỏ, đã qua sử dụng của bị cáo Sừng Chin S.
    • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 tờ tiền loại polymer mệnh giá 100.000 đồng được niêm phong trong phong bì số 1890/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T (đã được chuyển cơ quan thi hành án theo Biên lai thu tiền số 0002904 ngày 21/01/2025)
  4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Vũ Quang H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Sừng Chin S.
  5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo, người bào chữa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 21/02/2025. Những người đại diện hợp pháp của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND h. Thái Thụy;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Trại tạm giam;
  • - Nhà tạm giữ h. Thái Thụy;
  • - Chi cục THADS h. Thái Thụy;
  • - Công an h. Thái Thụy;
  • - TAND tỉnh Thái Bình;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
  • - Lưu HCTP:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Vũ Thị Thùy Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 15/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Quang Huy, Sừng Chin S
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger