Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LÂM HÀ

TỈNH LÂM ĐỒNG

***

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

***

Bản án số: 15/2025/HS - ST

Ngày: 21/02/2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ – TỈNH LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sơn Linh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Luân

Ông Nguyễn Xuân Ban

Thư ký phiên toà: Ông Phan Trọng Thắng – là Thư ký Toà án nhân dân huyện Lâm Hà.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa: Ông Mai Trường Trinh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 04/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Xuân H

sinh năm: 2001; tại: Lâm Đồng; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hoá: 06/12; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: không; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Phi L và bà Nguyễn Thị T; tiền án: tại bản án số 10/2022/HSST ngày 23/02/2022 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 08 tháng tù về tội: “Gây rối trật tự công cộng”; tiền sự: không; Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 156/QĐ-XPVPHC ngày 17/10/2018 của Công an huyện L xử phạt hành chính cảnh cáo về hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác; tại bản án số 138/2024/HSST ngày 27/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xử phạt 30 tháng tù về tội: “Bắt, giữ người trái pháp luật”; Bị cáo đang chấp hành án tại trại giam Đ cục C, Bộ C1; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: anh Nguyễn Minh N, sinh năm: 1993.

Địa chỉ: tổ dân phố B, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: anh Lý Duy L1, sinh năm: 1997.

Địa chỉ: thôn L, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

Hiện đang chấp hành án tại Trại giam Đ. Vắng Mặt.

+ Anh Lê Trọng H1, sinh năm: 1994.

Địa chỉ: tổ dân phố G, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng Mặt.

+ Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1976.

Địa chỉ: tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Người làm chứng:

+ Bà Phạm Thị X, sinh năm: 1955. Vắng Mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 14 giờ 00 phút ngày 30/3/2024, Đội CSĐTTP về KT-MT, Công an huyện L phối hợp với Công an thị trấn Đ tiến hành kiểm tra về việc chấp hành các quy định của pháp luật về hoạt động kinh doanh có điều kiện của nhà nghỉ T4 thuộc tổ dân phố Y, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng do bà Phạm Thị X là chủ cơ sở. Quá trình kiểm tra phòng nghỉ số 06 của nhà nghỉ phát hiện trên bàn uống nước có một gạt tàn thuốc màu xanh bên dưới có 01 gói nylon chứa tinh thể màu trắng nghi là ma tuý nên đã tiến hành lập biên bản ghi nhận sự việc và thu giữ niêm phong tang vật.

Quá trình điều tra xác định: Vào ngày 26/3/2024, Nguyễn Xuân H một mình đến nhà nghỉ T4 thuộc tổ dân phố Y, thị trấn Đ, huyện L để thuê phòng nghỉ thì được bà Phạm Thị X là chủ nhà nghỉ cho H thuê 01 phòng nghỉ không có số thứ tự với số tiền là 120.000 đồng/01 ngày. Đến sáng ngày 28/3/2024, bạn của H là Hà Văn T1 đến chơi nên H liên hệ bà X thuê thêm phòng nghỉ số 06 để cho T1 ở. Đến sáng ngày 29/3/2024, T1 trả phòng để đi về thì H đưa cho T1 số tiền 120.000 đồng để T1 thanh toán tiền phòng. Sau khi T1 về thì H đi sang phòng nghỉ không có số mà H thuê từ trước rồi đi vào phòng nghỉ. Lúc này điện thoại của H có tài khoản Zalo tên “Thangbom” của Nguyễn Minh N gửi lời kết bạn đến tài khoản Zalo của H tên Z “Xuân H” thì H đồng ý kết bạn. Sau đó, N nhắn tin qua ứng dụng Z cho H để hỏi mua ma tuý với số lượng “một hộp 10”, mặc dù không có ma tuý để bán cho N nhưng H vẫn đồng ý và báo giá tiền cho N là 7.000.000 đồng thì N đồng ý. Lúc này, H biết trong phòng trọ của Lê Trọng H1 có đường phèn nên H này sinh ý định sẽ lấy đường phèn làm giả thành gói ma túy để bán cho N chiếm đoạt số tiền 7.000.000 đồng. Đến khoảng 16 giờ 00 ngày 29/3/2024, H đi bộ đến phòng trọ của H1 thuộc tổ dân phố V, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Khi đến nơi thì H gặp H1 và Lý Duy L1 đang ngồi uống nước thì H đi vào phòng. Cả ba ngồi nói chuyện với nhau được khoảng 20 phút thì H1 đi lên gác để ngủ, còn H và L1 vẫn ngồi nói chuyện với nhau. Lúc này H thấy tại khu vực bếp nấu ăn trong phòng của H1 đang để bịch đường phèn nên H nhờ L1 lấy bịch đường phèn để đổ một ít vào túi nylon. L1 hỏi H lấy đường phèn để làm gì thì H không nói cho L1 biết mục đích mà chỉ nói với L1 là có việc. Khi thấy H nói vậy thì L1 không nói gì rồi lấy bịch đường phèn cho một ít vào túi nylon đưa cho H rồi đi ra ngoài hút thuốc lá. Lúc này H lấy quẹt lửa đốt hàn kín túi nylon có đường phèn bên trong cho vào bao thuốc lá nhãn hiệu 555 rồi cất vào trong túi quần. Sau khi làm xong thì H lấy điện thoại gọi cho N đến nhà nghỉ T4 để giao ma túy thì N đồng ý. Lúc này do không có xe nên H gọi H1 dậy nhờ H1 chở đến nhà nghỉ T4 thì H1 đồng ý. H1 lấy xe mô tô nhãn hiệu Honda mượn của bạn tên B (H1 không nhớ tên, địa chỉ và biển biển số) chở H đến nhà nghỉ T4. Khi đến nơi thì H1 điều khiển xe quay lại phòng còn H đi vào phòng nghỉ số 06 rồi nhắn N đến phòng nghỉ số 06 để nhận ma túy. Sau đó N đến gặp H thì H đưa cho N gói thuốc lá nhãn hiệu 555 bên trong có gói ma túy, N cầm gói thuốc lá mở ra kiểm tra thì nói với H sao hộp 10 mà ít thế và yêu cầu cân gói ma túy nhưng H không đồng ý vì sợ N phát hiện gói ma túy là giả nên H yêu cầu N đưa trước số tiền 5.000.000 đồng thì mới cho kiểm tra. Tuy nhiên, N không đồng ý nên H nói với N cứ đưa trước cho H số tiền 5.000.000 đồng về nếu cân đủ thì chuyển khoản cho H số tiền còn lại là 2.000.000 đồng, nếu không đủ thì H chỉ lấy số tiền 5.000.000 đồng và nói là gói ma túy thật nếu cứ kiểm ra thì mất lòng anh em. Sau khi H nói vậy thì N tin tưởng nên đồng ý mua gói ma túy và đưa cho H số tiền 5.000.000 đồng rồi cầm gói ma túy đi về, còn H gọi L1 đến đón về phòng trọ của H1. Trên đường N về đến khu vực ngã ba Q, thuộc thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng thì nghi ngờ nên lấy gói ma túy ra đưa lên miệng cắn để thử thì phát hiện là đường phèn không phải ma túy nên gọi điện cho H nhưng H không nghe máy. Lúc này biết bị H lừa bán cho gói ma túy giả nên N điều khiển xe quay lại nhà nghỉ T4 để đòi tiền và trả lại gói ma túy cho H. Khi đến nhà nghỉ thì N đi thẳng vào phòng nghỉ số 06 tìm nhưng không gặp H nên đã để lại gói ma túy giả trên bàn rồi dùng gạt tàn thuốc lá màu xanh đè lên rồi đi về nhà. Đến chiều ngày 30/3/2024, cơ quan công an kiểm tra hành chính nhà nghỉ T4 thì phát hiện trên bàn uống nước trong phòng nghỉ số 06 có một gạt tàn thuốc màu xanh bên dưới có 01 gói nylon chứa tinh thể màu trắng nghi là ma tuý nên tiến hành lập biên bản thu giữ, niêm phong tang vật mới các đối tượng lên làm việc. Tại cơ quan công an Nguyễn Xuân H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.

Vật chứng thu giữ: 01 gói nylon bên trong chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy, 01 thoại di động hiệu Iphone 6, 01 điện thoại di động hiệu Oppo A93 màu đen, số tiền 3.000.000 đồng.

Tại bản kết luận giám định số 2627/KL-KTHS ngày 13/5/2024, của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tinh thể màu trắng được niêm phong gửi giám định không tìm thấy thành phần các chất ma túy và tiền chất ma túy theo Nghị định 57/20211/NĐ-CP đề ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Tại bản cáo trạng số 12/CT-VKS ngày 02/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà để xét xử bị can Nguyễn Xuân H về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Xuân H về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù; áp dụng Điều 55; Điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp Tống hợp với hình phạt 30 tháng tù tại bản án số 138/2024/HS-ST ngày 27/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Buộc bị cáo phải chấp hành chung hình phạt của hai bản án là từ 45 đến 48 tháng tù.

Về xử lý vật chứng đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì được niêm phong có chữ ký ghi họ tên Võ Như T2, Hoàng Công P và hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh L; phong bì đựng bao gói vật chứng gửi giám định; Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu oppo A93 màu đen, số máy CPH2121, bên trong gắn sim số 0986.308.543 đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong được niêm phong có dấu tròn màu đỏ của Công an huyện L và chữ ký ghi họ tên của những người liên quan; T3 trả cho anh Nguyễn Minh N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, số seri FFMVQNJZHXR6, số máy MQ3E2VN/A đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong được niêm phong có dấu tròn màu đỏ của Công an huyện L và chữ ký ghi họ tên của những người liên quan; tuyên trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền 3.000.000đồng tại tài khoản tạm gửi của chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Hà tại Kho bạc nhà nước huyện L theo giấy nộp tiền ngày 08/01/2025. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo xác định quá trình điều tra bị cáo không bị ép cung, dùng nhục hình và lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là đúng với diễn biến sự việc xảy ra. Bị cáo đồng ý với cáo trạng truy tố và không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Xuân H đã khai nhận: vào ngày 29/3/2024, tại tổ dân phố Y, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng, bị cáo đã có hành vi sử dụng đường phèn cho vào 01 gói nylon làm giả thành gói ma túy rồi đưa ra thông tin gian dối lừa bán gói ma túy giả này cho bị hại là anh Nguyễn Minh N rồi chiếm đoạt số tiền 5.000.000 đồng của anh Nguyễn Minh N để sử dụng tiêu xài cá nhân thì bị lực lượng công an phát hiện. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, tang vật thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Nguyễn Xuân H phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất vụ án nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý có sự chuẩn bị từ trước và thể hiện quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, đồng thời tác động xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu tài sản dùng thủ đoạn đưa ra thông tin gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác nhằm mục đích lấy tiền tiêu xài cá nhân. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi mà mình đã thực hiện.

[4] Xét nhân thân của bị cáo: bị cáo có nhân thân không tốt, vào 2022 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xử phạt 08 tháng tù về tội: “Gây rối trật tự công cộng”, đến năm 2024 bị cáo lại tiếp tục phạm tội và bị Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xử phạt 30 tháng tù về tội: “Bắt, giữ người trái pháp luật”, bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm. Vì vậy, cần phải xử lý bị cáo với mức hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện cũng như răn đe phòng ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo đang phải chấp hành hình phạt của bản án số 138/2024/HSST ngày 27/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng nên áp dụng khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó tổng hợp với hình phạt của bản án trước và quyết định hình phạt chung đối với bị cáo theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đối với anh Lý Duy L1 là người giúp bị cáo lấy đường phèn cho vào túi nylon nhưng anh Lý Duy L1 không biết việc bị cáo dùng đường phèn giả thành gói ma túy để bị cáo chiếm đoạt số tiền 5.000.000 đồng của anh Nguyễn Minh N vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét, giải quyết.

Đối với anh Lê Trọng H1 dùng xe mô tô chở bị cáo mang theo gói ma túy giả đi bán cho anh Nguyễn Minh N nhưng anh Lê Trọng H1 không biết việc này và không tham gia bàn bạc hay hưởng lợi gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét, giải quyết.

Đối với việc anh Nguyễn Minh N mua gói ma túy của bị cáo Nguyễn Xuân H nhưng theo kết quả giám định không tìm thấy thành phần chất ma túy và tiền chất ma túy và đã ý thức được không phải là ma túy nên đã mang đến phòng nghỉ số 6 của nhà nghỉ T4 trả lại cho bị cáo Nguyễn Xuân H nên không có căn cứ xử lý hình sự. Ngày 31/5/2024 Công an huyện L đã ban hành quyết định số 126/QĐ-XPVPHC (ĐCSKT) Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực anh ninh trật tự đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của anh Nguyễn Minh N vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét, giải quyết.

Đối với số tiền 3.000.000 đồng bị cáo đã đưa cho bà Nguyễn Thị T là mẹ của bị cáo. Quá trình điều tra xác định khi bà T nhận số tiền này thì bà T không biết đây là số tiền mà bị cáo đã chiếm đoạt của anh Nguyễn Minh N nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét, giải quyết.

[5] Về trách nhiệm dân sự: đối với số tiền bị cáo lừa đảo của anh Nguyễn Minh N là 5.000.000 đồng. Hiện nay, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho anh N. Tại phiên tòa hôm nay, anh N vắng mặt, trong hồ sơ thể hiện anh N không có ý kiến và yêu cầu gì. Vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét, giải quyết.

[6] Xử lý vật chứng: vật chứng của vụ án do Cơ quan điều tra thu giữ bàn giao sang chi cục Thi hành án gồm: 01 phong bì được niêm phong có chữ ký ghi họ tên Võ Như T2, Hoàng Công P và hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh L; phong bì đựng bao gói vật chứng gửi giám định; 01 điện thoại di động nhãn hiệu oppo A93 màu đen, số máy CPH2121, bên trong gắn sim số 0986.308.543 đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong được niêm phong có dấu tròn màu đỏ của Công an huyện L và chữ ký ghi họ tên của những người liên quan; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, số seri FFMVQNJZHXR6, số máy MQ3E2VN/A đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong được niêm phong có dấu tròn màu đỏ của Công an huyện L và chữ ký ghi họ tên của những người liên quan; số tiền 3.000.000đồng tại tài khoản tạm gửi của chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Hà tại Kho bạc nhà nước huyện L theo giấy nộp tiền ngày 08/01/2025. Đối với 01 phong bì được niêm phong có chữ ký ghi họ tên Võ Như T2, Hoàng Công P và hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh L; phong bì đựng bao gói vật chứng gửi giám định là tang vật liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên tuyên tịch thu tiêu hủy; Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu oppo A93 màu đen, số máy CPH2121, bên trong gắn sim số 0986.308.543 bị cáo Lê Xuân H2 sử dụng để thực hiện vào hành vi phạm tội nên tuyên sung vào nhân sách nhà nước. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, số seri FFMVQNJZHXR6, số máy MQ3E2VN/A là tài sản của anh Nguyễn Minh N không liên quan đến hành vi phạm tội nên tuyên trả cho anh Nguyễn Minh N. Đối với số tiền 3.000.000đồng tại tài khoản tạm gửi của chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Hà tại Kho bạc nhà nước huyện L theo giấy nộp tiền ngày 08/01/2025 đây là số tiền bị cáo H2 đưa cho bà T, tuy nhiên hiện nay bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ cho bị hại với số tiền là 5.000.000đồng. Tại phiên tòa, bà T yêu cầu nhận lại số tiền này nên cần tuyên trả lại cho bà Nguyễn Thị T số tiền này là phù hợp.

[7]. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 174 Bộ luật hình sự;

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân H phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 55; Điều 56; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  3. Xử phạt: bị cáo Nguyễn Xuân H 15 (Mười lăm) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 30 tháng tù tại bản án số 138/2024/HS-ST ngày 27/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng. Buộc bị cáo phải chấp hành chung hình phạt của hai bản án là 45 (Bốn mươi lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/3/2024.

  4. Xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
  5. Tuyên:

    • 2.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì được niêm phong có chữ ký ghi họ tên Võ Như T2, Hoàng Công P và hình dấu tròn đỏ của Phòng K Công an tỉnh L; phong bì đựng bao gói vật chứng gửi giám định;
    • 2.2. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu oppo A93 màu đen, số máy CPH2121, bên trong gắn sim số 0986.308.543 đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong được niêm phong có dấu tròn màu đỏ của Công an huyện L và chữ ký ghi họ tên của những người liên quan;
    • 2.3. T3 trả cho anh Nguyễn Minh N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, số seri FFMVQNJZHXR6, số máy MQ3E2VN/A đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong được niêm phong có dấu tròn màu đỏ của Công an huyện L và chữ ký ghi họ tên của những người liên quan.
    • 2.4. T3 trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền 3.000.000đồng tại tài khoản tạm gửi của chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Hà tại Kho bạc nhà nước huyện L theo giấy nộp tiền ngày 08/01/2025
    • (Tất cả có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 18/02/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà).

  6. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (21/02/2024), R bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sáo bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKS huyện Lâm Hà;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng
  • - Chi cục THADS huyện Lâm Hà;
  • - Bị cáo; Người liên quan;
  • - Lưu HS - BP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Sơn Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HS - ST ngày 21/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 15/2025/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Xuân H phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger