Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HS-ST

Ngày: 21/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Tại điểm cầu trung tâm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Huy Phong

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trí và ông Nguyễn Thanh Liêm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Tiểu Ngọc - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Lợi - Kiểm sát viên.

Tại điểm cầu thành phần:

- Ông Nguyễn Thanh H - Thẩm phán

- Bà Nguyễn Thị Diễm T - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai xét xử trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn B, sinh năm 1992; nơi sinh: tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T1 (Nguyễn Hữu T2) và bà Nguyễn Thị Bích T3; Bị cáo chưa lập gia đình. Tiền án: không; tiền sự: ngày 23/10/2014, bị Công an thành phố C, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 15/8/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng. Chấp hành xong ngày 24/6/2024; Nhân thân: Ngày 28/6/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xử phạt 01 năm 06 tháng tù vệ tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 03/7/2022, đã nộp xong án phí. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần - Nhà tạm giữ, Công an huyện C.

Bị hại: Bà Võ Thị Ngọc K, sinh năm 1975; nơi cư trú: ấp T, xã M, huyện C, tỉnh An Giang, (vắng mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Phan Hữu N, sinh năm 1986; địa chỉ: tổ B, ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).

Người làm chứng: Võ Thị Ngọc T4, Phạm Văn T5 (đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 25/11/2024, Nguyễn Văn Bước Đ bộ đến ấp T, xã M, huyện C, trên đường quan sát thấy nhà nhà Võ Thị Ngọc K không khóa cửa, không người trông giữ nên B nảy sinh ý định lấy trộm tài sản. Bước đi ra phía sau nhà, lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động loại Samsung Galaxy A06 màu xanh nhạt, đang sạc pin của K để trên kệ đựng gia vị, giấu vào túi quần bên phải phía trước rồi đi đến bến đò Mỹ Hiệp qua tỉnh Đồng Tháp. Đến khoảng 09 giờ 30 phút ngày 26/11/2024, B đến cửa hàng Đ1 tại khóm D, phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp bán điện thoại cho Phan Hữu N (chủ cửa hàng) với giá 1.000.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết. Sau khi phát hiện điện thoại bị mấy trộm, K gọi cho Võ Thị Ngọc T6 (con ruột K) biết. Ngày 28/11/2024, K đến Công an xã M trình báo. Ngày 30/11/2024, B đến Công an đầu thú.

Quá trình điều tra thu giữ, xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A06, màu xanh nhạt đã trả lại cho Võ Thị Ngọc K.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 41/KL- HÐÐG.TTHS ngày 06/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện C, xác định: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A06, màu xanh nhạt. Trị giá 2.200.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 18/CT-VKSCM ngày 23/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

  • - Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu; bị cáo thấy ăn năn, hối hận về hành vi của mình, xin xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới thực hành công tố tại phiên tòa, sau khi xét hỏi, tranh luận, xem xét tính chất vụ án, mức độ, hậu quả từ hành vi phạm tội của bị cáo tác động đến xã hội, phân tích các tình tiết định tội, định khung hình phạt, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu Luận tội giữ nguyên quyết định Cáo trạng truy tố và đề nghị: Về trách nhiệm hình sự, áp dụng khoản 1 điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 01 năm 3 tháng đến 01 năm 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Về trách nhiệm dân sự, bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường bất cứ khoản tiền nào khác, không đề cập. Về hình phạt bổ sung, hoàn cảnh khó khăn, không nghề nghiệp nên không áp dng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: đã giao trả lại cho bị hại điện thoại di động, không đề cập.

Sau khi nghe quan điểm luận tội của Kiểm sát viên, bị cáo không tranh luận, xác định Cáo trạng truy tố đúng tội, không oan, nói lời sau cùng bị cáo xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, không khiếu nại các chứng cứ được thu thập. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị hại Võ Thị Ngọc K, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Phan Hữu N, người làm chứng vắng mặt không rõ lý do. Đối với những người này, đã được Tòa án triệu tập tham gia tố tụng theo đúng quy định; được Cơ quan điều tra thu thập lời khai chi tiết, toàn diện, đánh giá sự vắng mặt của những người nêu trên không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, hoàn toàn phù hợp lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra; phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng về toàn bộ diễn biến về thời gian, địa điểm xảy ra hành vi phạm tội, các tình tiết khác của vụ án; phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh, sơ đồ hiện trường được lập vào ngày //2024; phù hợp tang vật thu giữ do ngưởi có liên quan giao nộp. Ngoài ra, còn phù hợp với tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ.

Đã đủ căn cứ xác định, do tham lam, khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 25/11/2024, khi đi bộ đến trên đường quan sát thấy nhà bị hại không khóa cửa, không người trông giữ, nảy sinh ý định lấy trộm tài sản, bị cáo đi ra phía sau nhà, lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động loại Samsung Galaxy A06 màu xanh nhạt, của bị hại đang để trên kệ đựng gia vị, giấu vào túi quần. Sáng hôm sau, bị cáo mang điện thoại đã lấy trộm đến cửa hàng điện thoại di động Hoàng N1 bán cho Phan Hữu N với giá 1.000.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết. Ngày 30/11/2024, bị cáo đến Công an đầu thú. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 41/KL-HĐĐG.TTHS ngày 06/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện C, xác định: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A06, màu xanh nhạt (đã qua sử dụng), trị giá 2.200.000 đồng.

Với phân tích trên, Hội đồng xét xử xác định, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn B đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Do đó, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn B về tội danh, điểm, khoản, Điều luật viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[3] Bị cáo là người trưởng thành, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mình thực hiện là vi phạm pháp luật, nhưng bất chấp, cố ý thực hiện với ý thức mong muốn hậu quả xảy ra. Với bản tính lười lao động, muốn có tiền để tiêu xài cá nhân mà không phải bỏ ra công sức lao động, bị cáo nảy sinh ý định lấy trộm tài sản người khác, với cách thức, thủ đoạn lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu, bị cáo nhanh chóng tiếp cận và lấy trộm tài sản trị giá 2.200.000 đồng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, gây lo sợ, bất an trong nhân dân trước tình hình các tội phạm xâm phạm về quyền sở hữu, mà cụ thể là trộm cắp tài sản diễn ra ngày càng táo bạo, liều lĩnh như hiện nay. Bên cạnh đó, bị cáo có nhân thân xấu, có 02 tiền sự: ngày 23/10/2014, bị Công an thành phố C, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 15/8/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng. Chấp hành xong ngày 24/6/2024; Nhân thân: Ngày 28/6/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xử phạt 01 năm 06 tháng tù vệ tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 03/7/2022, đã nộp xong án phí, mặc dù đã được xóa án tích nhưng lần phạm tội này thể hiện ý thức xem thường pháp luật của bị cáo. Với những nhận định, đánh giá trên, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi mà bị cáo đã gây ra nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt khi tái hòa nhập cộng đồng, đồng thời có tác dụng răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • [4.1] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;
  • [4.2] Về tình tiết giảm nhẹ, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện được sự ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Mặt khác, tài sản thu hồi trao trả cho bị hại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, sau khi phạm tội bị cáo đến Cơ quan công an đầu thú; nhân thân chưa tiền án, tiền sự là tình tiết giảm nhẹ khác được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc là căn cứ giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
  • [5] Về đánh giá hành vi khác có liên quan: Đối với, hành vi của Phan Hữu N khi mua điện thoại không biết là tài sản do bị cáo phạm tội mà có, nên Cơ quan điều tra không xử lý.
  • [6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị mất trộm, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm bất cứ khoản tiền nào khác, đây là sự tự nguyện của bị hại nên ghi nhận, không xem xét về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo.
  • [7] Về hình phạt bổ sung: Đánh giá bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không nghề nghiệp cụ thể, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
  • [8] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ vật chứng là điện thoại di động, đã thực hiện việc giao trả cho bị hại, không đề cập.
  • [9] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
  • [10] Quan điểm luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ được Hội đồng xét xử xem xét, chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

  1. Về tội danh và hình phạt áp dụng:

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 01 năm 06 tháng tù (một năm sáu tháng). Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 15/12/2024.

  2. Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

    Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

    Bị cáo, có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm.

    Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - VKSND H. Chợ Mới;
  • - Nhà Tạm giữ - Công an H. Chợ Mới;
  • - CQTHAHS - Công an H. Chợ Mới;
  • - CQĐT - Công an H. Chợ Mới;
  • - Chi cục THADS H. Chợ Mới;
  • - BP Thi hành án - Tòa án;
  • - Bị cáo; Bị hại; Người liên quan;
  • - Lưu: HSVA; Văn phòng TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Huy Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 15/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 01 năm 06 tháng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger