|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN TỈNH VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 15/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 21 - 02 - 2025
V/v tranh chấp “ly hôn, nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN - TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Kim Ngân
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Ngọc Đức
- Ông Trương Văn Ánh
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Điền - là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 227/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2024; về tranh chấp: “ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXX-ST ngày 07 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết H, sinh năm 1976. Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (xin vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Dương Văn N, sinh năm 1988. Địa chỉ: tổ E, ấp M, xã M, huyện B, tỉnh Vĩnh Long (xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 11/10/2024 nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết H trình bày: Bà và ông Dương Văn N qua quen biết tìm hiểu nhau, được sự chấp thuận của gia đình hai bên tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương; đăng ký kết hôn ngày 05/3/2014 tại UBND xã M, huyện B, tỉnh Vĩnh Long. Sau khi cưới vợ chồng sống ở tổ E, ấp M, xã M, huyện B, tỉnh Vĩnh Long, hạnh phúc được hơn 01 năm. Có 01 con chung: Dương Văn P, sinh ngày 15/02/2014, hiện sống với ông N. Trong thời gian chung sống vợ chồng không tạo lập được tài sản chung nào; không thiếu nợ ai và cũng không cho ai mượn nợ. Vợ chồng chung sống với nhau hơn một năm thì hết tình cảm, phát sinh mâu thuẫn, thường xảy ra gây gỗ với nhau, mất đi hạnh phúc gia đình; đỉnh điểm ông N đuổi bà và con riêng của bà ra khỏi nhà vào đêm khuya, không có phương tiện đi lại nên mẹ con bà phải đi bộ về nhà mẹ ruột ở ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Vĩnh Long. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, bà yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn ông Dương Văn N; Về con chung: bà yêu cầu giải quyết cho ông N được quyền nuôi Dương Văn P, sinh ngày 15/02/2014, bà không cấp dưỡng nuôi con; Về quan hệ tài sản (tài sản chung, nợ chung): tự thỏa thuận, không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, bà không còn yêu cầu nào khác.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 21/01/2025 bị đơn ông Dương Văn N trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị Tuyết H do quen biết và được gia đình hai bên đồng ý tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương vào năm 2013; không có tặng cho nữ trang. Sau khi cưới, vợ chồng sống với cha mẹ ruột ông ở ấp M, xã M, huyện B, tỉnh Vĩnh Long. Có 01 con chung: Dương Văn P, sinh ngày 15/02/2014, hiện ông nuôi dưỡng. Vợ chồng ông không có tài sản chung, không có nợ chung. Mâu thuẫn dẫn đến ly hôn là do vợ chồng không hợp nhau, hiện ông không còn tình cảm với bà H; không liên lạc, không chăm sóc nhau. Nay theo yêu cầu khởi kiện của bà H; ông có ý kiến như sau: Về quan hệ hôn nhân: ông đồng ý ly hôn bà Nguyễn Thị Tuyết H; Về con chung: Dương Văn P, sinh ngày 15/02/2014, ông đồng ý tiếp tục nuôi con, ông không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con; Về quan hệ tài sản (tài sản chung, nợ chung): tự thỏa thuận, không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra ông không yêu cầu nào khác.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 21/01/2025 cháu Dương Văn P trình bày: cha cháu là Dương Văn N, mẹ cháu là Nguyễn Thị Tuyết H; cha mẹ cháu ly hôn, cháu có nguyện vọng sống với cha.
- Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
+ Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 68, 97, 98, 147, 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Tuyết H. Bà Nguyễn Thị Tuyết H được ly hôn với ông Dương Văn N. Giao cháu Dương Văn P, sinh ngày 15/02/2014 cho ông Dương Văn N nuôi dưỡng. Về án phí: buộc bà Nguyễn Thị Tuyết H nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Bà Nguyễn Thị Tuyết H có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Dương Văn N, ông N có nơi cư trú thuộc huyện B nên tranh chấp và quan hệ pháp luật thuộc thẩm quyền thụ lý và giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Bà Nguyễn Thị Tuyết H và ông Dương Văn N yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Tuyết H và ông Dương Văn N tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp, được pháp luật công nhận.
Xét yêu cầu xin ly hôn của bà H là có cơ sở. Bởi lẽ quá trình chung sống ông bà bất đồng quan điểm với nhau, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không còn hạnh phúc. Từ lâu ông bà đã không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng phải thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Hiện mỗi người đều có cuộc sống riêng không còn quan tâm đến nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà H và ông N xác định không còn tình cảm vợ chồng với nhau, bà H yêu cầu được ly hôn ông N; ông N đồng ý ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà H được ly hôn ông Nghĩa L có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.2] Về con chung: Dương Văn P, sinh ngày 15/02/2014.
Bà H yêu cầu giải quyết cho ông N được quyền nuôi con. Xét thấy từ khi bà H và ông N không còn sống chung, ông Nghĩa L người trực tiếp nuôi con, cuộc sống của con vẫn được đảm bảo; phù hợp với nguyện vọng của cháu P sống với cha. Do đó Hội đồng xét xử xem xét giao con cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Theo quy định của pháp luật thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, tuy nhiên ông N không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[2.3] Về chia tài sản: Bà Nguyễn Thị Tuyết H và ông Dương Văn N không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Tuyết H phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[4] Xét đề nghị của Kiểm sát viên có căn cứ nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 9, 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Tuyết H và ông Dương Văn N.
- Về con chung:
- Giao con chung Dương Văn P, sinh ngày 15/02/2014 cho ông Dương Văn N trực tiếp nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con: ông Dương Văn N không yêu cầu bà Nguyễn Thị Tuyết H cấp dưỡng nuôi con, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Bà Nguyễn Thị Tuyết H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình; đồng thời người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về chia tài sản: Bà Nguyễn Thị Tuyết H và ông Dương Văn N không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Tuyết H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) do bà H nộp theo biên lai thu số 0000170 ngày 05/12/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Tân. Vậy bà H đã nộp đủ.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Kim Ngân |
Bản án số 15/2025/HNGĐ-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN - TỈNH VĨNH LONG về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 15/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN - TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị Tuyết H yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn ông Dương Văn N; Về con chung: bà yêu cầu giải quyết cho ông N được quyền nuôi Dương Văn P, sinh ngày 15/02/2014, bà không cấp dưỡng nuôi con.
