Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HNGĐ-ST

Ngày 20 - 02 - 2025

“V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Cúc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Hồ Thị Lan
  2. Bà Lê Thu Thúy

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Lý - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Hồ Sỹ Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 02 năm 2025 tại Phòng xử án Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 240/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2024 về việc "ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 260/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2025/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Vũ Huyền T, sinh năm 1997; nơi cư trú: tổ C, khu C, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
  2. Bị đơn: Anh Đỗ Văn L, sinh năm 1997; nơi cư trú: tổ C, khu C, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

1. Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Vũ Huyền T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn với anh Đỗ Văn L vào ngày 16/3/2021, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Trước khi kết hôn chị và anh L chưa ai có vợ có chồng và có thời gian tìm hiểu nhau nhiều năm trước khi tiến tới hôn nhân. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống với nhau đến tháng 12 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn về lối sống và cách sinh hoạt, anh L thường xuyên rượu chè, đi đêm nhiều ngày không về, không quan tâm đến con cái dẫn đến hai vợ chồng cãi vã nhiều vấn đề khác trong cuộc sống, không thể tìm được tiếng nói chung để cùng đi đến cách giải quyết. Khi mâu thuẫn xảy ra thì gia đình hai bên nội ngoại đều biết và khuyên can vợ chồng chị hòa giải nhưng không được. Bản thân chị cũng nhiều lần tìm cách hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Từ tháng 7 năm 2024, vợ chồng sống ly thân, chị về nhà bố mẹ đẻ sống còn anh L vẫn sống tại nhà bố mẹ chồng chị; khi sống ly thân chị phát hiện anh L có quan hệ với người phụ nữ khác, vợ chồng không ai quan tâm đến ai, vợ chồng không còn khả năng hàn gắn. Đến nay, chị thấy mâu thuẫn giữa chị và anh L đã trầm trọng, không thể khắc phục và hàn gắn được, bản thân chị không còn tình cảm với anh L nên đề nghị tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh L.

Về con chung: Chị và anh Đỗ Văn L có 01 (một) con chung là Đỗ Anh D, sinh ngày 09/11/2021. Khi ly hôn, chị đề nghị được nuôi con chung và yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000đ/tháng.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị và anh Đỗ Văn L không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu tòa án giải quyết.

2. Bị đơn - Anh Đỗ Văn L trong quá trình giải quyết vụ án có quan điểm như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Anh tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn với chị Vũ Huyền T vào tháng 3/2021, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Trước khi kết hôn anh và chị T chưa ai có vợ có chồng và có thời gian tìm hiểu nhau 10 năm trước khi tiến tới hôn nhân. Sau khi kết hôn anh chị chung sống với nhau đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên dẫn đến thỉnh thoảng cãi vã, sứt mẻ tình cảm. Khi mâu thuẫn xảy ra thì gia đình hai bên nội ngoại đều biết và khuyên vợ chồng về đoàn tụ nhưng không được. Từ tháng 7 năm 2024, anh và chị T đã sống ly thân, mỗi người sống một nơi. Hiện tại anh vẫn còn tình cảm với chị T nên mong chị T cho một cơ hội để vợ chồng về đoàn tụ, cùng nhau xây dựng gia đình, chăm sóc con cái. Anh chưa có biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng do thời gian vừa qua công việc rất bận rộn, chị T không cho anh cơ hội gặp gỡ, nói chuyện. Anh mong tòa án hòa giải cho vợ chồng đoàn tụ.

Về con chung: Anh và chị T có 01 (một) con chung là Đỗ Anh D, sinh ngày 09/11/2021. Anh mong muốn vợ chồng về đoàn tụ để nuôi dạy con cái. Trong trường hợp nếu chị T kiên quyết ly hôn, anh đồng ý với quan điểm của chị T về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con chung, chị T là người trực tiếp nuôi con chung; anh sẽ cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000đ/tháng.

Về tài sản chung: Anh và chị Vũ Huyền T không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu tòa án giải quyết.

3. Xác nhận của chính quyền địa phương thể hiện: Chị Vũ Huyền T và anh Đỗ Văn L là công dân thường trú tại tổ C, khu C, phường C, thành phố H. Trong cuộc sống gia đình, chị T và anh L có xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị T và anh L có bất đồng trong lối sống, sinh hoạt, cách chăm sóc nuôi dạy con cái. Từ khoảng tháng 7/2024, chị T đã ra ngoài sống, không còn ở chung với anh L. Chị T và anh L có 01 con chung là Đỗ Anh D, sinh ngày 09/11/2021.

4. Tại phiên tòa, chị T vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn với anh L; về con chung: chị T đề nghị trực tiếp nuôi con là Đỗ Anh D, sinh ngày 09/11/2021; yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng/tháng.

5. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Vũ Huyền T được ly hôn với anh Đỗ Văn L; về con chung: giao con chung Đỗ Anh D, sinh ngày 09/11/2021 cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng; anh L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng/tháng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền của tòa án: Nguyên đơn chị Vũ Huyền T khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với bị đơn anh Đỗ Văn L có nơi cư trú tại thành phố H, tỉnh Quảng Ninh thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về sự vắng mặt của bị đơn - anh Đỗ Văn L: Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử, anh L đã được tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng anh L vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do chính đáng. Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Huyền T và anh Đỗ Văn L tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 16/3/2021 tại Ủy ban nhân dân phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh L là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu ly hôn của chị T, Hội đồng xét xử thấy: mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh L xuất phát chủ yếu do bất đồng về quan điểm sống, mâu thuẫn về lối sống và cách sinh hoạt dẫn đến hai vợ chồng cãi vã, không thể tìm được tiếng nói chung để cùng đi đến cách giải quyết. Khi mâu thuẫn xảy ra thì gia đình hai bên nội ngoại đều khuyên can vợ chồng hòa giải nhưng không được. Bản thân chị T cũng nhiều lần tìm cách hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Từ tháng 7 năm 2024, chị và anh L đã sống ly thân, mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm đến ai. Đến nay, chị T thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng, không thể khắc phục và hàn gắn được, chị T không còn tình cảm với anh L nên đề nghị tòa án giải quyết cho được ly hôn anh L.

Quá trình giải quyết vụ án, anh L cũng xác nhận vợ chồng có mâu thuẫn. Tuy nhiên, anh L vẫn còn tình cảm với chị T nên mong muốn được đoàn tụ. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân nhau, anh L và gia đình có tìm cách hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng chị T không hợp tác, điều đó thể hiện chị T không còn nguyện vọng tiếp tục đời sống chung vợ chồng với anh L nữa. Ngoài ra, khi chị T làm đơn xin ly hôn với anh L, Tòa án đã thông báo cho các đương sự để tiến hành hòa giải nhưng anh L không có mặt nên không hòa giải được. Anh L có lời khai mong muốn vợ chồng đoàn tụ nhưng không đến Tòa án để hòa giải và cũng không có giải pháp gì để vợ chồng đoàn tụ, thể hiện anh L không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng của chị T và anh L là có thật, đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T là có căn cứ theo quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Vũ Huyền T và anh Đỗ Văn L có 01 (một) con chung là Đỗ Anh D, sinh ngày 09/11/2021. Chị T đề nghị được trực tiếp nuôi con chung và yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000đ/tháng. Anh L mong muốn vợ chồng về đoàn tụ để nuôi dạy con cái. Trong trường hợp chị T kiên quyết ly hôn, anh đồng ý giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng; anh L cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000đ/tháng.

Xét thấy khi ly thân, con chung ở với chị T, chị T có đủ điều kiện đảm bảo nuôi con. Vì vậy, đề nghị của chị T, giao cháu Đỗ Anh D cho chị T nuôi và anh L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng/tháng là phù hợp với thực tế; đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của con chung; phù hợp với quan điểm của chị T và anh D, phù hợp quy định tại các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Vũ Huyền T và anh Đỗ Văn L không có tài sản chung, không có nợ chung, nên Hội đồng xét xử không xét.

[5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

[6] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[7] Đối với ý kiến của kiểm sát viên là có căn cứ pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 ngày 12 tháng 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Huyền T được ly hôn với anh Đỗ Văn L.
  2. Về con chung: giao con chung Đỗ Anh D, sinh ngày 09/11/2021 cho chị Vũ Huyền T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Anh Đỗ Văn L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung Đỗ Anh D 2.000.000đ (hai triệu đồng)/tháng. Thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 3/2025 cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi).

Sau khi ly hôn, anh Đỗ Văn L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nếu anh Đỗ Văn L lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Vũ Huyền T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Hoặc nhận thấy chị Vũ Huyền T không đủ điều kiện bảo đảm quyền lợi ích của con thì anh Đỗ Văn L có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  1. Về án phí: Chị Vũ Huyền T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0001245 ngày 17/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Chị Vũ Huyền T đã nộp đủ án phí.

Anh Đỗ Văn L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

  1. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Vũ Huyền T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn anh Đỗ Văn L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long;
  • - Chi cục THADS thành phố Hạ Long;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh;
  • - Ủy ban nhân dân phường Cao Thắng, thành phố Hạ Long;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HNGĐ-ST ngày 20/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 15/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn, tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger