Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ GIÁO

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HS-ST

Ngày 20/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hiên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Quốc Hương;

Ông Phạm Văn Trung.

- Thư ký phiên toà: Ông Trương Thành Long - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Hoàng Ngọc Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 153/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 151/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Lê Chí B, sinh ngày 01 tháng 11 năm 1996 tại Kiên Giang; nơi cư trú: Số B, Mai Thị Hồng H, khu phố D, Phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; tạm trú: Ấp B, xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Chí C, sinh năm 1970 và bà Lê Thị Cẩm N, sinh năm 1971, bị cáo sống như vợ chồng với bà Trần Thị Diễm K, sinh năm 1992; bị cáo có 02 người con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền sự: Không

Tiền án: Ngày 30/6/2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 112/2021/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt ngày 27/01/2024 nhưng chưa chấp hành nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/10/2024 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.

* Bị hại: Bà Trương Thị Ngọc T, sinh năm 1986; địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Ngô Văn T1, sinh năm 1987; nơi cư trú: Tổ F, khu phố H, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Công ty cổ phần D (Taxi Xanh SM):

Đại diện theo pháp luật bà Đào Thụy V; địa chỉ: A T, phường T, quận Đ, Thành phố H;

Đại diện hợp pháp của bà V: Ông Nguyễn Vi T2, sinh năm 1992; nơi cư trú: Khóm B, thị trấn U, huyện U, tỉnh Cà Mau, tạm trú: Thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (văn bản ủy quyền ngày 26/9/2024). Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Lê Chí B có một (01) tiền án về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xử phạt 03 (ba) năm tù, B chấp hành án phạt tù xong ngày 27/01/2024. (Chưa xóa án tích).

Khoảng 10 giờ ngày 02/10/2024, Nguyễn Lê Chí B mượn điện thoại của một người dân (không rõ nhân thân lai lịch) trên địa bàn xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương gọi điện thoại cho tổng đài xe Taxi Xanh SM để đặt xe đi từ xã T, huyện P tới thành phố T, tỉnh Bình Dương với mục đích đi vay mượn tiền. Khoảng một tiếng sau, bà Trương Thị Ngọc T là tài xế lái xe điều khiển xe ô tô biển số 93H – 053.84 đến đón B tại điểm hẹn. Khi đến phường C, thành phố T, B mượn điện thoại của bà T để gọi cho một người quen tên B1 (không rõ nhân thân lai lịch) để mượn tiền nhưng không mượn được tiền. Sau đó, B nói bà T chở B quay về lại huyện P. Khi đi đến địa phận xã V, huyện P, B nói với bà T ghé vào nhà anh V1 (không rõ nhân thân lai lịch) để hỏi mượn tiền nhưng đến nhà thì anh V1 không có ở nhà. Lúc này, B nảy sinh ý định bỏ trốn không trả tiền cước xe taxi nên B nói với bà T chở B về hướng xã A, huyện P. Khi đi đến đoạn đường Đ, ấp N, xã A, huyện P, B kêu bà T dừng xe lại, B xuống xe và nói dối với bà T là đi vào nhà người quen mượn tiền trả tiền xe cho bà T. Lúc này, bà T nói B lấy điện thoại của bà T liên lạc với người quen thì B cầm lấy điện thoại. B thấy điện thoại của bà T là điện thoại Iphone 13 Promax có giá trị nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. Ngay lúc bà T đang quay xe, B nhanh chóng đi vào bên trong đoạn đường vắng, tắt nguồn điện thoại rồi đi bộ về hướng xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. Khi đi đến chợ T3, B đón xe ôm đến tiệm Đ tại phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước do ông Ngô Văn T1 làm chủ, bán được 7.000.000 đồng. B dùng số tiền bán được, mua 01 điện thoại di động Iphone XS Max 64Gb với giá 4.600.000 đồng để sử dụng, số tiền còn lại B tiêu xài cá nhân hết. Bà T khoảng 15 phút không thấy B quay lại nên đến Công an xã A trình báo vụ việc bị Nguyễn Lê Chí B chiếm đoạt 01 điện thoại Iphone 13 Promax 128 Gb, màu xanh và tiền cước phí taxi là 2.500.000 đồng. Đến ngày 03/10/2024, B bị lực lượng Công an xã A bắt đưa về trụ sở làm việc. Qua làm việc B thừa nhận hành vi phạm tội như trên.

Bản kết luận định giá tài sản số 105/KL-HĐĐGTS, ngày 07/10/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax dung lượng 128 Gb, màu xanh đã qua sử dụng tại thời điểm định giá có giá trị: 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng).

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ và Xử lý vật chứng:

  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax dung lượng 128 Gb, màu xanh đã qua sử dụng.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSmax dung lượng 64 Gb, màu vàng.
  • Thu giữ của Nguyễn Lê Chí B số tiền 460.000 đồng (Bốn trăm sáu mươi nghìn đồng).

Kết luận định giá tài sản số 105/KL-HĐĐGTS ngày 07/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone có giá trị 16.000.000 đồng

Cáo trạng số 153/CT-VKSPG ngày 28 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Lê Chí B về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Nguyễn Lê Chí B phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và áp dụng khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Lê Chí B từ 15 (mười lăm) tháng đến 19 (mười chín) tháng tù.

* Về xử lý vật chứng:

  • Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSmax dung lượng 64 Gb, màu vàng.
  • Tiếp tục quản thủ số tiền 460.000 đồng (Bốn trăm sáu mươi nghìn đồng) để đảm bảo bồi thường cho ông Ngô Văn T1.

* Về dân sự:

  • Buộc bị cáo Nguyễn Lê Chí B phải bồi thường số tiền còn thiếu 6.540.000 đồng cho ông Ngô Văn T1;
  • Buộc bị cáo trả cho bị hại bà Trương Thị Ngọc T cước taxi số tiền 2.500.000 đồng.

Phần tranh tụng tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận, đồng ý với tội danh và mức hình phạt mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Lê Chí B: Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để có điều kiện sớm trở về gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, trong quá trình điều tra, truy tố đã cung cấp lời khai và sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử nên HĐXX căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt những người nêu trên.

[3] Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Lê Chí B trình bày: Khoảng 10 giờ ngày 02/10/2024, tại xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương, bị cáo Nguyễn Lê Chí B có hành vi thuê xe taxi Xanh SM đi từ huyện P, tỉnh Bình Dương đến thành phố T, tỉnh Bình Dương với cước phí taxi là 2.500.000 đồng, bà Trương Thị Ngọc T là nhân viên lái xe taxi Xanh SM điều khiển xe về đến xã A, huyện P bà T đã cho B mượn 01 điện thoại Iphone 13 Promax 128 Gb, màu xanh đã qua sử dụng, có giá trị 16.000.000 đồng liên lạc với người quen để mượn tiền trả tiền cước phí taxi. B thấy điện thoại có giá trị nên có ý định chiếm đoạt tài sản để tiêu xài cá nhân và không trả tiền taxi rồi bỏ trốn.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

[4] Như vậy, Cáo trạng số 153/CT-VKSPG ngày 28 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Lê Chí B về các tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[5] Bị cáo biết việc lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, hành vi của bị cáo xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại về tài sản, xâm phạm đến trật tự an toàn tại địa phương. Do đó, HĐXX xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức án cách ly ra khỏi xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mà bị cáo đã thực hiện nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và nêu gương phòng ngừa chung cho xã hội.

[6] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt HĐXX cũng xem xét đến những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

  • - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Lê Chí B có 01 tiền án đã chấp hành xong hình phạt nhưng chưa chấp hành xong phần án phí nên chưa được xóa án tích nên thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
  • - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[7] Xét mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp với hành vi, tính chất, tình tiết của vụ án và có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX chấp nhận

[8] Về trách nhiệm dân sự: Ông Ngô Văn T1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 7.000.000 đ. Bị cáo đồng ý bồi thường. Số tiền thu giữ của bị cáo 460.000 đ được trả lại cho ông T1. Bị cáo còn phải bồi thường số tiền còn thiếu 6.540.000 đ.

Bị cáo nợ tiền cước taxi của bị hại số tiền 2.500.000 đ nên cần buộc bị cáo phải có trách nhiệm trả cho bị hại.

Ông Nguyễn Vi T2 là đại diện ủy quyền của công ty cổ phần D1 và thông minh GSM (taxi Xanh SM), có nhân viên lái xe là bà Trương Thị Ngọc T. Công ty giao quyền cho nhân viên lái xe chở khách xong thì thu tiền nộp về công ty nên ông T2 không yêu cầu gì.

[9] Về xử lý vật chứng:

  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax dung lượng 128 Gb, màu xanh đã qua sử dụng. Đây là tài sản của bà Trương Thị Ngọc T, Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho bà T, bà T đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không đặt ra xem xét.
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSmax dung lượng 64 Gb, màu vàng. Đây là tài sản của bị cáo B mua được bằng tiền phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
  • - Thu giữ của bị cáo Nguyễn Lê Chí B số tiền 460.000 đồng (Bốn trăm sáu mươi nghìn đồng). Tiếp tục quản thủ để đảm bảo trách nhiệm bồi thường cho ông Ngô Văn T1.

[10] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Lê Chí B phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Lê Chí B 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 03/10/2024.
  3. Về trách nhiệm dân sự:
    1. Buộc bị cáo Nguyễn Lê Chí B phải bồi thường số tiền 6.540.000 đ (sáu triệu năm trăm bốn mươi nghìn đồng) cho ông Ngô Văn T1.
    2. Buộc bị cáo trả số tiền 2.500.000 đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng) cho bị hại bà Trương Thị Ngọc T.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

  4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSmax dung lượng 64 Gb, màu vàng.
  • - Tiếp tục quản thủ số tiền 460.000 đ (bốn trăm sáu mươi nghìn đồng) để đảm bảo trách nhiệm bồi thường cho ông Ngô Văn T1.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo và giấy nộp tiền ngày 28/11/2024 đơn vị nhận tiền Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo).

  1. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Nguyễn Lê Chí B phải nộp 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (20/02/2025). Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương; (1)
  • - VKSND tỉnh Bình Dương; (1)
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; (1)
  • - PV06 Công an tỉnh Bình Dương; (1)
  • - VKSND huyện Phú Giáo; (1)
  • - Công an huyện Phú Giáo; (2)
  • - Chi cục THADS huyện Phú Giáo; (1)
  • - UBND phường Vĩnh Lợi, thành phố Rạng Giá, tỉnh Kiên Giang (thay thông báo); (1)
  • - Những người tham gia tố tụng; (4)
  • - Lưu hồ sơ, VP. (2)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 15/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Lê Chí B lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger