TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 15/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 19 – 02 – 2025
Về việc Ly hôn, tranh
chấp về nuôi con và cấp dưỡng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Triệu Láth.
- Bà Nguyễn Huỳnh Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hưng, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu.
Trong ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 276/2024/TLST-HNGĐ, ngày 18 tháng 12 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con và cấp dưỡng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Lưu Ph, sinh năm 1998.
Địa chỉ: Số nhà 188 khóm C, Phường B, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
* Bị đơn: Anh Lưu Tr, sinh năm 1990.
Địa chỉ: Số nhà 188 khóm C, Phường B, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
(Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 11/6/2024 cũng như tại đơn xin giải quyết vắng mặt, nguyên đơn Lưu Ph trình bày:
Chị Lưu Ph và anh Lưu Tr tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân Phường B, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 28/9/2018. Trong thời gian kết hôn, vợ chồng có 02 (hai) con chung là cháu Lưu Ngũ B (nam) sinh ngày 08/11/2015 và cháu Lưu Ngũ Đ (nam) sinh ngày 13/8/2021. Trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do không hợp tính tình, hiện nay tình cảm không còn, cuộc sống chung không hạnh phúc.
Nay chị Ph yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về hôn nhân: Chị Lưu Ph yêu cầu được ly hôn với anh Lưu Tr.
- Về con chung: Chị Ph yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 (hai) con chung là cháu Lưu Ngũ B (nam) sinh ngày 18/11/2015 và cháu Lưu Ngũ Đ (nam) sinh ngày 13/8/2021.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Ph yêu cầu anh Lưu Tr cấp dưỡng nuôi cháu Lưu Ngũ Bảo (nam) sinh ngày 08/11/2015 và cháu Lưu Ngũ Đ (nam) sinh ngày 13/8/2021, mỗi tháng là 1.000.000đ (một triệu đồng) cho mỗi người con, cấp dưỡng cho đến khi hai con đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung và nợ chung: Tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chứng cứ do chị Ph giao nộp là bản chính Giấy chứng nhận kết hôn của chị Lưu Ph và anh Lưu Tr; bản sao căn cước công dân của chị Lưu Ph; bản sao Giấy khai sinh của cháu Lưu Ngũ B và cháu Lưu Ngũ Đ.
Đối với bị đơn anh Lưu Tr: Dù được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, tại Thông báo thể hiện đầy đủ những tình tiết, sự kiện, tài liệu, yêu cầu khởi kiện của chị Ph nhưng anh Lưu Tr không phản đối, không có văn bản trình bày ý kiến và nguyện vọng của mình. Đồng thời, anh Lưu Tr cũng vắng mặt không có lý do trong các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tòa án đã thông báo kết quả phiên họp trên cho anh Lưu Tr và đưa vụ án ra xét xử. Phiên tòa ngày 23/01/2025, bị đơn Lưu Tr vẫn vắng mặt và không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa, tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Chị Lưu Ph khởi kiện, yêu cầu ly hôn với anh Lưu Tr và yêu cầu tiếp tục nuôi con chung, cấp dưỡng nuôi con. Yêu cầu của chị Ph được pháp luật điều chỉnh tại các Điều 51, Điều 56 và Điều 58 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 (sau đây gọi là Luật hôn nhân và gia đình) thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn Lưu Tr đã được triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên tòa, đều vắng mặt không có lý do nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt của mình. Tại đơn xin vắng mặt, nguyên đơn có trình bày rõ các yêu cầu của mình và Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung giải quyết:
Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn; bản sao căn cước công dân, Giấy khai sinh của cháu Lưu Ngũ B và cháu Lưu Ngũ Đ cũng như việc không phản đối của anh Tr; đối chiếu với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử khẳng định lời trình bày của chị Ph về việc kết hôn với anh Lưu Tr được Ủy ban nhân dân Phường B, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 28/9/2018 và vợ chồng đã có 02 con chung là sự thật. Vì vậy, giữa chị Ph và anh Tr đang tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp, quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.
Tuy nhiên, hiện nay, quan hệ hôn nhân giữa chị Ph và anh Tr không còn hạnh phúc nữa; mạnh ai nấy sống, người nào chỉ biết bổn phận của người đó, không cùng nhau thực hiện các công việc gia đình; không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nữa. Như vậy, chị Ph và anh Tr đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình; vợ chồng không còn yêu thương, tôn trọng lẫn nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần áp dụng các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình, giải quyết cho chị Ph được ly hôn với anh Tr.
Đối với quyền nuôi con chung: Tại thời điểm xét xử vụ án cháu Lưu Ngũ B và cháu Lưu Ngũ Đ còn nhỏ và hiện đang sống với mẹ và cháu Lưu Ngũ Bảo có nguyện vọng sống với mẹ, như vậy chị Ph đã thực hiện đúng nghĩa vụ và quyền của cha mẹ quy định tại Điều 69 của Luật hôn nhân và gia đình. Về phía anh Tr từ khi Tòa án thụ lý cho đến nay, anh Tr không có ý kiến gì về việc chị Ph xin được nuôi dưỡng con chung nên căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, giao cho chị Ph được tiếp tục nuôi dưỡng con chung là cháu Lưu Ngũ B (nam) sinh ngày 08/11/2015 và cháu Lưu Ngũ Đ (nam) sinh ngày 13/8/2021 cho đến khi cháu B và cháu Đ thành niên.
Về cấp dưỡng nuôi con: Xét thấy, việc cấp dưỡng là nghĩa vụ của cha, mẹ đồng thời là để tạo điều kiện tốt hơn cho chị Ph nuôi dưỡng hai con, do đó căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình, việc chị Ph yêu cầu anh Tr cấp dưỡng nuôi hai con mỗi tháng là 1.000.000₫ (một triệu đồng) cho mỗi người con là có cơ sở chấp nhận và cần buộc anh Tr cấp dưỡng nuôi cháu Lưu Ngũ B (nam) sinh ngày 08/11/2015 và cháu Lưu Ngũ Đ (nam) sinh ngày 13/8/2021 mỗi tháng là 1.000.000đ (một triệu đồng) cho đến khi cháu Lưu Ngũ B và cháu Lưu Ngũ Đ đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định của pháp luật.
Nguyên đơn tiếp tục khẳng định tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Lưu Ph phải chịu là 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng), theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Án phí cấp dưỡng: Anh Lưu Tr phải chịu là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), theo điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 và khoản 2 Điều 143, khoản 1 Điều 144, khoản 4 Điều 147, điểm a và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lưu Ph được ly hôn với anh Lưu Tr.
- Về quyền nuôi con chung: Giao cho chị Lưu Ph được tiếp tục nuôi dưỡng 02 (hai) con chung là cháu Lưu Ngũ B (nam) sinh ngày 08/11/2015 và cháu Lưu Ngũ Đ (nam) sinh ngày 13/8/2021 đến khi hai con thành niên.
Trong thời gian chị Ph nuôi dưỡng con chung, không ai được quyền ngăn cản sự thăm nom, chăm sóc, giáo dục của cha mẹ đối với con chung.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc anh Lưu Tr phải cấp dưỡng nuôi cháu Lưu Ngũ B (nam) sinh ngày 08/11/2015 và cháu Lưu Ngũ Đ (nam) sinh ngày 13/8/2021 mỗi tháng là 1.000.000đ (một triệu đồng) cho mỗi người con, cấp dưỡng cho đến khi cháu Lưu Ngũ B và cháu Lưu Ngũ Đ đủ 18 tuổi, có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình, trừ khi thuộc trường hợp chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật. Cấp dưỡng lần đầu là ngày 19/02/2025, việc cấp dưỡng của anh Trách được thi hành ngay mặc dù bản án có thể bị kháng cáo, khiếu nại, kháng nghị, kiến nghị.
Vì quyền lợi về mọi mặt của hai cháu Lưu Ngũ B và cháu Lưu Ngũ Đ, chị Ph có thể yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi nghĩa vụ và mức cấp dưỡng cho con; anh Tr có thể yêu cầu giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Các đương sự thực hiện quyền này theo quy định pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn khẳng định tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Lưu Ph phải chịu là 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0006237 ngày 17/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu, chị Ph đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Án phí cấp dưỡng: Anh Lưu Tr phải chịu là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
6. Chị Lưu Ph và anh Lưu Tr có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA VÕ THỊ HIẾU |
Bản án số 15/2025/HNGĐ-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con và cấp dưỡng
- Số bản án: 15/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con và cấp dưỡng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
