Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH HÀ

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 19-02-2025

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi

con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Lê Công Nhận
  2. Bà Bùi Thị Vân

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Quang Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 265/2024/TLST-HNGĐ ngày 31/10/2024 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/12/2024 và quyết định hoãn phiên toà số 06 ngày 21/01/2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Anh Dương Xuân C, sinh năm 1983; (vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt)
  • - Bị đơn: Chị Phạm Thị X, sinh năm 1984; (vắng mặt)
  • Đều có địa chỉ: Xóm C, thôn V, xã L, huyện T, tỉnh Hải Dương.

* Người làm chứng:

  • - Bà Mạc Thị H, sinh năm 1947; địa chỉ: Xóm C, thôn V, xã L, huyện T, tỉnh Hải Dương; (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn và lời khai của nguyên đơn thể hiện: Anh C kết hôn với chị X vào ngày 30/8/2006 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện T, tỉnh Hải Dương. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc khoảng 07 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng có nhiều bất đồng về quan điểm sống, không hợp nhau về tính cách lẫn sở thích nên vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Từ tháng 3/2024 đến nay vợ chồng anh đã sống ly thân (vẫn sống cùng nhà nhưng không ngủ chung, không sinh hoạt vợ chồng, không quan tâm đến nhau). Nay anh xác định không còn tình cảm với chị X nên anh kiên quyết ly hôn với chị X.

Về con chung: Vợ chồng anh có 02 con chung là Dương Thị Thu T, sinh ngày 8/10/2008 và Dương Thị Q, sinh ngày 27/11/2011. Khi ly hôn, chị X xin nuôi cả hai con và yêu cầu anh cấp dưỡng nuôi con mức 3 triệu đồng/tháng/1 con, tổng hai con là 6 triệu đồng/tháng, anh đồng ý với ý kiến của chị X.

Về tài sản, công sức, nợ chung: Vợ chồng anh tự thoả thuận, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn trình bày về thời gian kết hôn, việc đăng ký kết hôn như nguyên đơn khai nêu trên. Sau khi cưới, trước năm 2023 thi thoảng vợ chồng chị có xô xát cãi nhau nhưng đó chỉ là những xô xát nhỏ trong cuộc sống. Từ năm 2023 anh C có bồ bịch bên ngoài, bị chị nói nên anh C bực tức và đã ngủ riêng với chị hơn một năm nay, không quan tâm đến chị. Tuy nhiên chị không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh việc anh C ngoại tình để giao nộp cho Toà án. Chị không đồng ý ly hôn vì chị không muốn con cái phải khổ, chị vẫn còn tình cảm với anh C. Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung, tên tuổi như anh C khai nêu trên. Nếu buộc phải ly hôn chị xin nuôi cả hai con chung và yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con mức 3 triệu đồng/tháng/1 con, tổng hai con là 6 triệu đồng/tháng. Về tài sản, công sức, nợ chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Cháu Dương Thị Thu T, cháu Dương Thị Q đều ý kiến xin ở với mẹ nếu bố mẹ cháu ly hôn.

* Lời khai của người làm chứng bà Mạc Thị H (mẹ đẻ anh C) cũng như kết quả xác minh tại địa phương thể hiện: Trong thời gian chung sống, vợ chồng anh C, chị X đã nảy sinh mâu thuẫn dẫn đến xô sát, sống ly thân nhau từ nhiều tháng nay, không ai quan tâm đến ai. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do vợ chồng chưa thực sự hiểu nhau, bất đồng về quan điểm sống. Ngoài ra UBND xã L còn cung cấp: Anh C, chị X có 02 con chung như anh chị đã khai, cả hai anh chị đều đủ điều kiện nuôi con, đề nghị Toà án căn cứ vào lời khai của các bên đương sự, nguyện vọng của con chung để quyết định giao con cho ai nuôi; mức thu nhập trung bình của người dân lao động chân tay tại địa phương hiện nay là 200.000đ/tháng.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt.

Đại diện VKSND huyện Thanh Hà phát biểu ý kiến: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử (viết tắt: HĐXX) và nguyên đơn theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX áp dụng Điều 39, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227, 228, 229, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Về quan hệ hôn nhân xử anh C ly hôn với chị X. Về con chung: Giao hai con chung là Dương Thị Thu T, sinh ngày 8/10/2008 và Dương Thị Q, sinh ngày 27/11/2011 cho chị X nuôi dưỡng đến khi con chung thành niên. Anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Anh C có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con mức 3 triệu đồng/tháng/1con (tổng mức cấp dưỡng cho hai con là 6 triệu đồng/tháng). Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn, người làm chứng vắng mặt nhưng trước đó họ đã đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt họ. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, người làm chứng theo quy định tại Điều 227, 228, 229 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Anh C, chị X có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện T, tỉnh Hải Dương trên cơ sở tự nguyện nên là hôn nhân hợp pháp.

Căn cứ lời khai của các đương sự, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy: Trong quá trình chung sống, vợ chồng anh C, chị X đã nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng có nhiều bất đồng về quan điểm sống, chưa thực sự hiểu nhau, từ đó dẫn đến xô xát, cãi nhau. Chị X cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do anh C ngoại tình nhưng lại không đưa ra được chứng cứ, tài liệu nào chứng minh cho lời khai đó của chị X. Thực tế vợ chồng đã ngủ riêng từ nhiều tháng nay, không ai quan tâm đến ai. Trước đây anh C đã từng làm đơn khởi kiện xin ly hôn với chị X, được Tòa án khuyên giải về đoàn tụ nên anh C đã rút đơn khởi kiện. Đến nay tình trạng vợ chồng anh C vẫn không được cải thiện nên anh C tiếp tục khởi kiện xin ly hôn với chị X. Chị X không muốn ly hôn nhưng cũng không đưa ra được giải pháp hữu hiệu nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Như vậy mâu thuẫn vợ chồng chị X, anh C đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh C là cơ cơ sở, cần được chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3]. Về con chung: Vợ chồng anh C, chị X có 02 con chung là Dương Thị Thu T, sinh ngày 8/10/2008 và Dương Thị Q, sinh ngày 27/11/2011. Xét chị X xin nuôi cả hai con chung, anh C nhất trí để chị X nuôi hai con; cháu T và cháu Q đều có nguyện vọng xin ở với mẹ. Vì vậy cần giao cả hai con chung cho chị X nuôi dưỡng là phù hợp với ý chí của các bên đương sự và nguyện vọng của con chung, phù hợp với quy định của pháp luật.

Chị X yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung mức 3 triệu đồng/tháng/1 con, tổng hai con là 6 triệu đồng/tháng, anh C nhất trí cấp dưỡng nuôi con theo mức mà chị X đề nghị. Xét thấy đây là ý chí tự nguyện của các đương sự, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4]. Về tài sản, công sức, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy HĐXX không xem xét.

[5]. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227, Điều 228, Điều 229, Điều 147, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử anh Dương Xuân C ly hôn chị Phạm Thị X.
  2. Về con chung: Giao hai con chung là Dương Thị Thu T, sinh ngày 8/10/2008 và Dương Thị Q, sinh ngày 27/11/2011 cho chị Phạm Thị X nuôi dưỡng đến khi con chung thành niên. Anh C có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con mức 3 triệu đồng/tháng/1 con, tổng hai con là 6 triệu đồng/tháng, kể từ tháng 01/2025 cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi).

    Anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

  3. Về án phí: Anh Dương Xuân C phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm ly hôn và 300.000đ tiền cấp dưỡng nuôi con, được đối trừ 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005952 ngày 25/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, anh C còn phải nộp 300.000đ tiền án phí.
  4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Thanh Hà;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Hà;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Liên Mạc;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HNGĐ-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 15/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: mâu thuẫn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger