|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG Bản án số: 15/2025/HS-ST Ngày 19 – 02 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ - TP ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bình
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Ngọc Thúy
Ông Trần Trung Nam
- Thư ký phiên tòa:
Bà Nguyễn Phan Khánh Vi - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa:
Ông Đỗ Văn Quân - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 04/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
NGÔ VĂN T, sinh ngày 02/12/2002 tại thành phố Đà Nẵng; nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô C (Chết) và bà Đặng Thị N; có vợ là Nguyễn Đặng Diệu L (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại:
- Ông Nguyễn Phước Cảnh L1, sinh năm 1972; Nơi cư trú: Tổ I, phường H, quận T, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt)
- Công ty Cổ phần X; Địa chỉ: Xóm Q, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trịnh Minh H, sinh năm 1967; Nơi cư trú: K Đ, tổ D, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt)
- Hợp tác xã dịch vụ Hỗ trợ ô tô Vận tải và xe Du lịch Đ1; Địa chỉ: Lô H B, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn T1, sinh năm 1974; Nơi cư trú: 1 Đ, tổ D, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt).
- Sở Giao thông Vận tải thành phố Đ; Địa chỉ: Số D V, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt).
* Bị đơn dân sự:
Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3; Địa chỉ: K Â, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Xuân Q, sinh năm 1981; Chức vụ: Giám đốc; (Có mặt).
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Quang Đ, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Thôn X, xã P, huyện N, tỉnh Quảng Nam; (Có mặt)
- Hợp tác xã D; Địa chỉ: 6, tổ B, ấp K, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương; (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Mặc dù đã sử dụng rượu bia trước đó nhưng vào khoảng 02 giờ 30 phút ngày 30/7/2024, Ngô Văn T (là nhân viên lái xe thư báo cho Công ty T3; địa chỉ tại K Â, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng - ông Trần Xuân Q là người đại diện theo pháp luật) vẫn điều khiển xe ô tô tải thư báo hiệu ISUZU BKS 61C-423.99 lưu thông trên đường Đ theo hướng thuận chiều xe chạy từ cầu vượt N về hầm chui Điện Biên P, khi đi đến đoạn ngang trước nhà số A Đ thuộc phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng, do không chú ý quan sát, không làm chủ tay lái nên tông và làm hư hỏng dãy 04 chiếc xe ô tô đang đỗ trước số nhà A Đ, gồm: xe ô tô điện hiệu VINFAST VF5 PLUS S5EJ01 BKS: 43A-868.37 và xe ô tô tải 705kg hiệu SUZUKI CARRY BKS: 43C-196.56 của anh Nguyễn Phước C1 Lượng; xe ô tô khách hiệu FORD TRANSIT JX6582T-M3 BKS: 43B-024.28 của Hợp tác xã Đ1; xe ô tô tải hiệu TOYOTA HILUX BKS: 37C-187.13 của Công ty cổ phần X và tông gãy 01 biển báo giao thông kí hiệu R.415.
* Theo kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận T xác định tài sản bị làm hư hỏng có giá trị cụ thể như sau:
- Xe ô tô điện hiệu VINFAST VF5 PLUS S5EJ01, màu xanh, BKS: 43A-868.37 có giá trị tài sản hư hỏng là 217.060.000 đồng;
- Xe ô tô tải 705kg hiệu SUZUKI CARRY, màu trắng, BKS: 43C-196.56 có giá trị tài sản hư hỏng là 17.050.000 đồng;
- Xe ô tô khách hiệu FORD TRANSIT JX6582T-M3, màu trắng, BKS: 43B-024.28 có giá trị tài sản hư hỏng là 23.100.000 đồng;
- Xe ô tô tải hiệu TOYOTA HILUX, màu bạc, BKS: 37C-187.13 có giá trị tài sản hư hỏng là 7.500.000 đồng;
- Biển báo gộp làn phương tiện giao thông kí hiệu R.415 có giá trị tài sản hư hỏng là 5.032.800 đồng;
Tổng giá trị thiệt hại là 269.742.800 đồng (Hai trăm sáu mươi chín triệu, bảy trăm bốn mươi hai ngàn tám trăm đồng).
Kết quả đo nồng độ cồn đối với Ngô Văn T khi xảy ra tai nạn là 0,193 mg/lít khí thở. Xe ô tô tải thư báo hiệu ISUZU BKS 61C-423.99 là loại xe có tải trọng hàng hóa 2000kg (có kiểm định đến ngày 26/10/2024). Ngô Văn T có giấy phép lái xe hạng B2, số: [...], phù hợp để điều khiển loại xe ô tô trên.
Sau khi vụ việc xảy ra các Cơ quan tiến hành tố tụng quận T đã tiến hành khám nghiệm hiện trường ngày 30/7/2024, khám nghiệm phương tiện có liên quan ngày 15/8/2024 đảm bảo theo đúng quy định.
* Tang vật tạm giữ:
- 01 đĩa CD ghi lại nội dung vụ việc được lưu trữ tại hồ sơ vụ án.
- 01 xe ô tô điện hiệu VINFAST VF5 PLUS S5EJ01, màu xanh, BKS: 43A-868.37 và xe ô tô tải 705kg hiệu SUZUKI CARRY, màu trắng, BKS: 43C-196.56;
- 01 xe ô tô khách hiệu FORD TRANSIT JX6582T-M3, màu trắng, BKS: 43B-024.28;
- 01 xe ô tô tải hiệu TOYOTA HILUX, màu bạc, BKS: 37C-187.13;
- 01 xe ô tô tải thư báo, màu trắng, BKS: 61C-423.99; 01 giấy đăng ký xe ô tô BKS: 61C-423.99 đứng tên chủ sở hữu HTX D; 01 giấy kiểm định xe ô tô BKS: 61C-423.99 do Trung tâm kiểm định xe cơ giới 43-03D cấp ngày 27/4/2024;
- 01 giấy phép lái xe hạng B2, số: [...] mang tên Ngô Văn T;
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 10/CT-VKS-TK ngày 06/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Ngô Văn Thịnh về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Ngô Văn T, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Văn T mức án từ 18 (Mười tám) tháng tù đến 24 (Hai mươi tư) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự:
Các bị hại Công ty Cổ phần X; Hợp tác xã dịch vụ Hỗ trợ ô tô Vận tải và xe Du lịch Đ1; Sở Giao thông Vận tải thành phố Đ không có yêu cầu bồi thường nên không đề cập giải quyết.
Riêng bị hại Nguyễn Phước Cảnh L1 đã nhận bồi thường số tiền 23.200.000 đồng và tiếp tục yêu cầu bồi thường 232.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị hại Nguyễn Phước Cảnh L1 chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 217.060.000 đồng, bị cáo T và bị đơn dân sự đã bồi thường tiếp cho bị hại ông Nguyễn Phước C1 Lượng số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng), ông L1 xác nhận đã nhận số tiền 30.000.000 đồng và tiếp tục yêu cầu các bên liên quan bồi thường số tiền 187.060.000 đồng. Các bên liên quan gồm bị cáo T, ông Nguyễn Phước Cảnh L1, bị đơn dân sự thống nhất thỏa thuận bị cáo T tiếp tục chịu trách nhiệm bồi thường cho bị hại Nguyễn Phước C1 Lượng số tiền 187.060.000, thời gian thực hiện việc bồi thường đến ngày 01/5/2025 và đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận này.
Về xử lý vật chứng, đề nghị:
Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án 01 đĩa CD ghi lại nội dung vụ việc;
Trả lại cho chủ sở hữu ông Lê Quang Đ 01 xe ô tô tải thư báo, màu trắng, BKS: 61C-423.99; 01 giấy đăng ký xe ô tô BKS: 61C-423.99 đứng tên chủ sở hữu HTX D; 01 giấy kiểm định xe ô tô BKS: 61C-423.99;
Trả lại cho Ngô Văn T 01 Giấy phép lái xe hạng B2;
Về hình phạt bổ sung:
đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 41, khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự để phạt bổ sung cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo T từ 2 (H) năm đến 3 (Ba) năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
Bị cáo Ngô Văn T thừa nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo một hình phạt nhẹ để bị cáo sớm trở về, lao động phụ giúp gia đình, trở thành một công dân tốt;
Đại diện các bị hại Công ty Cổ phần X, Hợp tác xã dịch vụ Hỗ trợ ô tô Vận tải và xe Du lịch Đ1 xác nhận đã được bị cáo Ngô Văn T bồi thường thiệt hại; đại diện bị hại Sở Giao thông Vận tải thành phố Đ xác nhận bị cáo Ngô Văn T đã khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra. Các bị hại này không có yêu cầu bồi thường về trách nhiệm dân sự.
Bị hại ông Nguyễn Phước Cảnh L1 đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, yêu cầu bị cáo T tiếp tục bồi thường số tiền 187.060.000 đồng, thời hạn thực hiện việc bồi thường đến ngày 01/5/2025. Về xử lý trách nhiệm hình sự, ông L1 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị đơn dân sự Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3 thống nhất về phần dân sự và yêu cầu Tòa án công nhận sự thỏa thuận của các bên đương sự, về việc bị cáo T tiếp tục bồi thường cho bị hại ông L1 số tiền 187.060.000 đồng. Đối với xe ô tô BKS: 61C-423.99 đứng tên chủ sở hữu HTX D thì ông Q đại diện theo pháp luật của bị đơn dân sự xác nhận đây là xe của ông Lê Quang Đ, do ông Đ tự đứng ra ký hợp đồng mua bán giữa các bên, không liên quan đến Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3, ông Đ đưa xe này vào công ty để làm nhiệm vụ vận chuyển hàng hóa cho công ty.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lê Quang Đ trình bày xe ô tô BKS: 61C-423.99 đứng tên chủ sở hữu HTX D là xe của ông, ông tự vay mượn và ký hợp đồng mua bán với Hợp tác xã Đại Thành T2, sau đó ông có đưa xe này vào Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3 để hoạt động vận chuyển hàng hóa, vào ngày xảy ra sự việc do bị cáo T gây ra ông không biết việc T có sử dụng rượu bia mà còn lái xe. Nay ông đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại xe ô tô BKS: 61C-423.99 cho ông. Đối với hư hại của xe ô tô BKS: 61C-423.99 ông tự nguyện sữa chữa không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên đều hợp pháp, đúng quy định.
[2] Về tội danh: Xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 30/7/2024, mặc dù trong cơ thể có nồng độ cồn 0,193 mg/lít khí thở do trước đó đã sử dụng bia nhưng Ngô Văn T vẫn điều khiển xe ô tô tải thư báo hiệu ISUZU BKS: 61C-423.99 lưu thông trên đường Đ theo hướng thuận chiều xe chạy từ cầu vượt N về H Chui Đ. Khi đến trước số nhà A Đ, thuộc phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng, do không chú ý quan sát, không làm chủ tay lái nên xe ô tô của T điều khiển đã tông vào dãy 04 xe ô tô đang đỗ trước nhà số A Đ và tông gãy 01 biển báo giao thông ký hiệu R.415, gây thiệt hại tổng giá trị là 269.742.800 đồng (Hai trăm sáu mươi chín triệu, bảy trăm bốn mươi hai ngàn, tám trăm đồng).
Hành vi nêu trên của bị cáo Ngô Văn T đã vi phạm quy định tại khoản 8, khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ; khoản 1 Điều 35 Luật Phòng chống tác hại của rượu bia là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến vụ tai nạn giao thông; Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” với tình tiết định khung “Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Do đó, cáo trạng số 10/CT-VKS-TK ngày 06/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất của vụ án, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo.
Bị cáo T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có kiến thức về Luật giao thông đường bộ, mặc dù biết rõ việc điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ khi đã sử dụng rượu bia là vi phạm pháp luật, sẽ phải chịu chế tài của pháp luật nhưng Ngô Văn T vẫn bất chấp thực hiện dẫn đến tai nạn giao thông, làm hư hỏng nhiều tài sản của người khác với tổng giá trị 269.742.800 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Do đó, đối với bị cáo cần phải xử phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Về mức độ lỗi của bị cáo T là thiếu ý thức chấp hành quy định khi tham gia giao thông đường bộ, lỗi trong vụ tai nạn giao thông hoàn toàn thuộc về bị cáo.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và hình phạt đối với bị cáo:
Bị cáo Ngô Văn T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, lần đầu phạm tội. Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã tích cực bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; bị hại Nguyễn Phước Cảnh L1 xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo T từng được Ủy ban nhân dân huyện H tặng “Giấy khen” do đã có thành tích xuất sắc trong công tác phòng, chống tội phạm trên địa bàn xã H. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự được Hội đồng xét xử áp dụng, qua đó giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo T có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên xem xét cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung cấm hành nghề lái xe ô tô đối với bị cáo Ngô Văn T nhằm tăng cường tác dụng giáo dục đối với bị cáo.
[7] Từ những phân tích trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê về tội danh và các điều luật áp dụng cũng như đề nghị về mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Ngô Văn T đã bồi thường cho Công ty Cổ phần X số tiền 8.000.000 đồng; bồi thường cho Hợp tác xã dịch vụ Hỗ trợ ô tô Vận tải và xe Du lịch Đ1 số tiền 15.000.000 đồng; khắc phục lại nguyên trạng ban đầu biển báo giao thông của Sở Giao thông Vận tải thành phố Đ. Các bị hại này không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với bị hại ông Nguyễn Phước Cảnh L1, quá trình giải quyết ông L1 yêu cầu bồi thường số tiền 232.000.000 đồng. Tại phiên tòa ông L1 chỉ yêu cầu bồi thường số tiền 217.060.000 đồng và ông L1 xác nhận đã nhận thêm số tiền bồi thường 30.000.000 đồng từ bị cáo T và bị đơn dân sự, ông L1 yêu cầu các bên liên quan bồi thường tiếp số tiền 187.060.000 đồng. Cũng tại phiên tòa bị cáo Ngô Văn T, bị đơn dân sự Công ty Trách nhiệm hữu hạn T3, bị hại Nguyễn Phước Cảnh L1 thống nhất thỏa thuận bị cáo Ngô Văn T có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Nguyễn Phước C1 Lượng số tiền 187.060.000 đồng, thời hạn thực hiện việc bồi thường đến ngày 01/5/2025. Xét thấy việc thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Đối với hư hại của xe ô tô BKS: 61C-423.99 ông Lê Quang Đ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
[9] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 xe ô tô tải, màu trắng, BKS: 61C-423.99, quá trình điều tra xác định đây là tài sản do HTX D đứng tên đăng ký, đến ngày 21/02/2022 đã được chuyển nhượng lại cho ông Lê Quang Đ. Sau đó, ông Đ giao xe cho bị cáo T sử dụng vào việc vận chuyển hàng hóa của Công ty TNHH T3. Xét đây là tài sản hợp pháp của ông Lê Quang Đ, do đó Hội đồng xét xử thấy cần trả lại xe ô tô tải nói trên và các giấy tờ có liên quan (01 giấy đăng ký xe ô tô; 01 giấy kiểm định xe ô tô) cho ông Đ.
- Đối với 01 Giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Ngô Văn T, xét đây là giấy tờ tùy thân của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo sử dụng.
- Đối với 01 xe ô tô điện hiệu VINFAST VF5 PLUS S5EJ01, màu xanh, BKS: 43A-868.37 và xe ô tô tải 705kg hiệu SUZUKI CARRY, màu trắng, BKS: 43C-196.56; 01 xe ô tô khách hiệu FORD TRANSIT JX6582T-M3, màu trắng, BKS: 43B-024.28; 01 xe ô tô tải hiệu TOYOTA HILUX, màu bạc, BKS: 37C-187.13 đã được Cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu là có cơ sở, Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
- Đối với 01 đĩa CD ghi lại nội dung vụ việc là vật chứng chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, cần tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án.
[10] Về những vấn đề khác có liên quan trong vụ án: Đối với Công ty TNHH T3 giao xe ô tô tải thư báo BKS: 61C-423.99 cho Ngô Văn T quản lý, sử dụng để vận chuyển hàng hóa từ khoảng tháng 4/2024 đến khi xảy ra vụ án, khi giao xe có kiểm tra điều kiện lái xe của T là phù hợp; T mặc dù biết có lịch lái xe nhưng vẫn sử dụng rượu bia và không thông báo cho người có trách nhiệm quản lý biết. Do đó cơ quan điều tra không đề cập xử lý trách nhiệm là có cở sở.
[11] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án thì bị cáo Ngô Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và phải chịu 9.353.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố:
Bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Ngô Văn T 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
2. Về hình phạt bổ sung:
Căn cứ vào Điều 41, khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự: Buộc bị cáo Ngô Văn T cấm hành nghề lái xe ô tô trong thời hạn 01 (Một) năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
3. Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584 và Điều 589 Bộ luật Dân sự:
Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo Ngô Văn T, bị đơn dân sự Công ty TNHH T3, bị hại Nguyễn Phước Cảnh L1 như sau: Bị cáo Ngô Văn T chịu trách nhiệm bồi thường số tiền 187.060.000 đồng cho bị hại Nguyễn Phước Cảnh L1, thời hạn thực hiện việc bồi thường đến ngày 01/5/2025.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ thì phải chịu thêm khoản lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Mức lãi suất chậm trả được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
4. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:
- Trả lại cho Ngô Văn T: 01 Giấy phép lái xe hạng B2, số [...] mang tên Ngô Văn T;
- Trả lại cho ông Lê Quang Đ: 01 xe ô tô tải thư báo, màu trắng, BKS: 61C-423.99, số máy: 728634, số khung JAANKR55LY7100734; 01 giấy đăng ký xe ô tô BKS: 61C-423.99 đứng tên chủ sở hữu HTX D; 01 giấy kiểm định xe ô tô BKS: 61C-423.99;
(Các vật chứng trên hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/01/2025).
Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án 01 đĩa CD ghi lại nội dung vụ việc.
5. Về án phí:
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Ngô Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 9.353.000 đồng (Chín triệu ba trăm năm mươi ba ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, bị hại, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự. Các đương sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Bình |
Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 15/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
