Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH CHƯƠNG

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 15/2025/HSST

Ngày: 19/02/2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông: Nguyễn Bá Anh
  • Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Tư Hải Phong
  • 2. Bà Nguyễn Thị Thảo Hường

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Tráng. Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Khánh Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 02 năm 2025. Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2025/HSST, ngày 07 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2025/QĐXXST-HS, ngày 04/02/2025, đối với:

Bị cáo: Vi Văn T, sinh ngày 17/9/1972. Nơi cư trú: Bản B, xã M, huyện C, tỉnh Nghệ An. Thẻ CCCD: [...]. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 0/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông: Vi Văn C (đã chết) và bà Lương Thị M, sinh năm 1950; Vợ: Hà Thị N, sinh năm 1976; Con: Có 04 người, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2012; Anh chị em ruột có 07 người, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/9/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Võ Thị H, trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào sáng ngày 29/09/2024, Vi Văn T và Hồ Sỹ P (sinh năm 1974, trú tại Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An) vượt biên trái phép sang nước Lào để khai thác gỗ theo sự rủ rê và hướng dẫn của Tô Văn Q (sinh năm 1985, trú tại thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An). Theo lời khai của Vi Văn T thì tại khu vực Khe Lét nước Lào thì T gặp và mua của một người đàn ông quốc tịch nước Lào (T không biết họ, tên tuổi, địa chỉ) 01 gói thuốc phiện với số tiền 300.000 đồng với mục đích làm thuốc cho trâu, gà khi bị dịch (khi T mua ma tuý thì P không biết). Đến khoảng 8 giờ 30 phút ngày 30/9/2024, T và P đi về đến bản T, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An thì bị tổ công tác Đồn Biên phòng cửa khẩu Thanh Thủy - Bộ đội Biên phòng tỉnh N phát hiện bắt quả tang, thu giữ bên trong túi áo ngực bên trái của Vi Văn T đang mặc có 01 gói thuốc lá nhãn hiệu nước ngoài, bên trong có bọc 01 bọc ni lông màu đen chứa 01 cục chất màu đen (Nghi là thuốc phiện); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi số IMEL 1: 864291068890045, số IMEL 2 864291068890052 gắn thẻ Sim 0963.406.874.

Ngày 02/10/2024, Đồn Biên phòng cửa khẩu Thanh Thủy - Bộ đội Biên phòng tỉnh N thành lập Hội đồng mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại. Tại kết luận giám định số 906/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 05/10/2024 của Phòng K, Công an tỉnh N kết luận:

“- Mẫu chất màu đen thu giữ của Vi Văn T gửi giám định gửi đến giám định là ma túy; loại Nhựa thuốc phiện

- Số chất màu đen thu giữ của Vi Văn T có khối lượng là 9,595 g (chín phẩy năm trăm chín mươi lăm gam)”.

Về vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ: 9,595 g (chín phẩy năm trăm chín mươi lăm gam) Nhựa thuốc phiện đã sử dụng hết 1,105 g (một phẩy một trăm lẻ năm gam) trong quá trình giám định. Vật chứng còn lại gồm: 8,490 g (tám phẩy bốn trăm chín mươi gam) Nhựa thuốc phiện; 01 điện thoại di động hiệu Redmi số IMEL 1: 864291068890045, số IMEL 2 864291068890052; kèm sim số 0963406874; 01 gói thuốc lá nhãn hiệu nước ngoài; vỏ ni lông; vỏ phong bì niêm phong ban đầu. Hiện đang bảo quản tại Kho vật chứng Công an huyện T.

Tại bản cáo trạng số 16 ngày 06/01/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương đã truy tố Vi Văn T về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, Điều 106, Điều 136 BLTTHS xử

phạt bị cáo Vi Văn T từ 13 tháng tù đến 15 tháng tù. Về tang vật: Đề nghị HĐXX tịch thu tiêu hủy 8,490 gam nhựa thuốc phiện, 01 gói thuốc lá nhãn hiệu nước ngoài, vỏ ni lông, vỏ phong bì niêm phong ban đầu. Trả lại 01 điện thoại di động hiệu Redmi số IMEL 1: 864291068890045, số IMEL 2 864291068890052; kèm sim số 0963406874 cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số nên miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Vi Văn T không tranh luận về chứng cứ và tội danh mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo. Người bào chữa có ý kiến: Bị cáo Vi Văn T là người dân tộc thiểu số, bị cáo mua ma túy về với mục đích làm thuốc cho trâu, gà khi bị dịch, trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải. Từ các phân tích trên đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử bị cáo mức án từ 12 tháng tù đến 13 tháng tù. Miễn hình phạt tiền là hình phạt bổ sung cho bị cáo và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo Vi Văn T thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố, không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, đồng ý như ý kiến của người bào chữa, không bổ sung gì thêm, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo Vi Văn T, đã hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với các tình tiết có trong hồ sơ vụ án.

Xét về chứng cứ đã có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 30/9/2024, tại bản T, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An, tổ công tác Đồn Biên phòng cửa khẩu Thanh Thủy - Bộ đội Biên phòng tỉnh N, phát hiện bắt quả tang Vi Văn T đang có hành vi cất giấu trái phép 9,595 g (chín phẩy năm trăm chín mươi lăm gam) nhựa thuốc phiện với mục đích để sử dụng.

Như vậy đã có đủ cơ sở để khẳng định bị cáo Vi Văn T, phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”, như Viện kiểm sát đã truy tố là đúng.

[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, ảnh hưởng đến an ninh trật xã hôị; hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý của nhà nước về các chất ma túy. Cho nên cần xét xử nghiêm, mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung và cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo.

Tuy nhiên xét thấy quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Cho nên cũng cần xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo, để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Xét thấy bị cáo không có tài sản gì có giá trị lớn, thu nhập không ổn định; nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[4] Trong vụ án này, theo lời khai của Vi Văn T, còn có người đàn ông quốc tịch nước Lào là người đã bán ma túy cho T. Tuy nhiên trong quá trình điều tra không xác định được họ, tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với Hồ Sỹ P là người đi cùng Vi Văn T; quá trình điều tra đã chứng minh được P không biết mục đích của T nên Cơ quan điều tra không tiến hành xử lý đối với P là có căn cứ và đúng pháp luật.

Đối với hành vi vượt biên trái phép của Vi Văn T và Hồ Sỹ P chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Đồn Biên phòng cửa khẩu Thanh Thủy - Bộ đội Biên phòng tỉnh N đã lập hồ sơ đề nghị xử phạt hành chính đối với T và P là có căn cứ và đúng pháp luật.

Đối với Tô Văn Q là người rủ rê và hướng dẫn Vi Văn T và Hồ Sỹ P vượt biên trái phép sang Lào; Hành vi này của Q đã được xử lý trong vụ án khác.

[5] Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 8,490 gam nhựa thuốc phiện, 01 gói thuốc lá nhãn hiệu nước ngoài, vỏ ni lông, vỏ phong bì niêm phong ban đầu. Trả lại 01

điện thoại di động hiệu Redmi số IMEL 1: 864291068890045, số IMEL 2 864291068890052; kèm sim số 0963406874 cho bị cáo.

[6] Về án phí: Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Vi Văn T, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Xử phạt bị cáo: Vi Văn T, 13 ( Mười ba ) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 30/9/2024.

  1. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 8,490 gam nhựa thuốc phiện, 01 gói thuốc lá nhãn hiệu nước ngoài, vỏ ni lông, vỏ phong bì niêm phong ban đầu. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Redmi số IMEL 1: 864291068890045, số IMEL 2 864291068890052; kèm sim số 0963406874. (Chi tiết các vật chứng có tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An).
  2. Về án phí: Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
  3. Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án cấp trên trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận :

  • - Sở tư pháp, TAND tỉnh Nghệ An
  • - CA, VKS huyện Thanh Chương
  • - THA hình sự
  • - Chi cục THA dân sự TC
  • - UBND xã Môn Sơn, H. Con Cuông
  • - Bị cáo, Lưu VP, lưu HS

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Bá Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HSST ngày 19/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 15/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi Văn T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger