|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 15/2025/HNGĐ-ST Ngày: 19 - 02 - 2025 “V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình – Ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ - TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý Ngoan.
Các Hội Thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Quốc Thắng
- Ông Nguyễn Thanh Chắc
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Võ Huỳnh Anh Thư – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 199/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2024, về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – Ly hôn, nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 03 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lữ Thị Linh H, sinh năm: 1991 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp F, xã X, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
- Bị đơn: Anh Trần Hoàng Đ, sinh năm: 1988 (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp C, xã X, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Lữ Thị Linh H (gọi tắt là chị H) trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh Trần Hoàng Đ tự nguyện kết hôn với nhau và năm 2011 và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện L, tỉnh Hậu Giang.
Nguyên nhân mâu thuẫn: Sau thời gian sống chung với nhau thì vợ chồng anh chị bắt đầu xảy ra nhiều mâu thuẫn, do vợ chồng không hoà hợp, bất đồng quan điểm sống, chị H nhận thấy không còn tình cảm với anh Trần Hoàng Đ nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Trần Hoàng Đ.
- Về con chung: Chị H khai vợ chồng có 01 con chung là Trần Hoàng P (giới tính nam), sinh ngày 01/02/2012. Khi ly hôn chị H yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị H khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, chị H không có yêu cầu gì thêm và đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập hợp lệ bị đơn anh Trần Hoàng Đ nhiều lần để tiến hành phiên hợp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhưng anh Đ nhiều lần vắng mặt không có ký do. Tại phiên toà hôm nay anh Đ tiếp tục vắng mặt không có lý do nên Toà án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn anh Trần Hoàng Đ.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự đã chấp hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án Kiểm sát viên đề nghị các vấn đề sau: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cho chị Lữ Thị Linh H được ly hôn với anh Trần Hoàng Đ. Giao con chung là Trần Hoàng P cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, anh Đ chưa phải cấp dưỡng nuôi con do chị H chưa yêu cầu. Danh quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giao dục con cho anh Đ, không ai được ngăn cản. Tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết. Án phí nguyên đơn phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích và đánh giá về những chứng cứ, những tình tiết của vụ án, hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Lữ Thị Linh H khởi kiện yêu cầu xin ly hôn, yêu cầu nuôi con đối với bị đơn anh Trần Hoàng Đ. Căn cứ theo quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thì quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình - Ly hôn, nuôi con” được Luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh. Bị đơn anh Trần Hoàng Đ có địa chỉ cư trú tại ấp C, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chị Lữ Thị Thanh H1 có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Trần Hoàng Đ được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa xét xử nhưng vắng mặt không lý do, nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 228; Điều 233 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn chị Lữ Thị Linh H và bị đơn anh Trần Hoàng Đ, nhưng vẫn đảm bảo quyền lợi cho chị H và anh Đ theo quy định pháp luật.
[2]. Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của chị Lữ Thị Linh H, hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Vào 2011 chị H và anh Đ tự nguyện kết hôn và có đăng kết hôn theo quy định nên được hôn nhân của anh chị được xem là hợp pháp. Sau thời gian chung sống anh chị đã có con chung với nhau, tuy nhiên cuộc sống hôn nhân phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống. Nay chị H cho rằng mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H yêu cầu được ly hôn với anh Đ. Căn cứ vào lời trình bày của đương sự, căn cứ vào tài liệu chứng cứ trong hồ sơ có cơ sở xác định quan hệ tình cảm vợ chồng giữa chị H và anh Đ thật sự có mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, Toà án đã triệu tập anh Đ nhiều lần để tiến hành hoà giải nhưng anh Đ đều vắng mặt không có lý do. Từ đó cho thấy, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H cho chị H và anh Đ được ly hôn.
[2.2]. Về con chung: Cháu Trần Hoàng P (giới tính nam ) sinh ngày 01/02/2012, hiện cháu P đang sống chung với chị H được chị H chăm sóc tốt và cháu P có nguyện sống chung với chị H. Do đó để đảm bảo điều kiện phát triển tốt và đảm bảo ổn định cuộc sống cho cháu P nên hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Trần Hoàng P cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Anh Trần Hoàng Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được quyền cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng: Chị H không yêu cầu anh Trần Hoàng Đ cấp dưỡng nên không xem xét.
[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung: Chị H khai không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
[2.4]. Từ những nhận định trên xét đề nghị của kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ được hội đồng xét xử chấp nhận.
[3]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc nguyên đơn phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227, Điều 228; Điều 233; Điều 238 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 14; Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lữ Thị Linh H đối với anh Trần Hoàng Đ. Cho chị Lữ Thị Linh H và anh Trần Hoàng Đ được ly hôn.
- Về con chung: Giao cháu Trần Hoàng P (giới tính nam), sinh ngày 01/02/2012 cho chị Lữ Thị L H tiếp tục nuôi dưỡng.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho anh Trần Hoàng Đ không ai được quyền cản trở.
Về cấp dưỡng: Chị Lữ Thị Linh H không yêu cầu nên không xem xét.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: Nguyên đơn Lữ Thị Linh H phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm với số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Được khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo lai thu số 0010332 phiếu lập ngày 04/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang thành án phí.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bán án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thúy Ngoan |
Bản án số 15/2025/HNGĐ-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ - TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình – ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 15/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình – Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ - TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị H yêu cầu ly hôn với anh D
