|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 15/2025/HS-ST Ngày 18 - 02 - 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Phạm Ngọc Sơn |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Mai Đức Danh |
| Ông Lê Thế Hải |
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Ánh – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Trung – Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Lê Minh Q, sinh ngày 25 tháng 11 năm 1991 tại phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: SN A đường Q, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
SỐ CCCD: [...], cấp ngày 14/8/2021, Nơi cấp: Cục C về TTXH;
Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Minh B và bà Phan Thị Â; có vợ là Hoàng Hồng H, sinh năm 1993 và 01 con sinh năm 2023.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Lê Minh B, sinh năm 1960
Nơi cư trú: SN A đường Q, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Nghề nghiệp: Hưu trí; là bố đẻ của bị cáo. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Khắc H1 – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt.
- Bị hại: Anh Phạm Minh T, sinh năm 1991. Vắng mặt.
Nơi cư trú: xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Minh Q là kỹ sư của Công ty TNHH L có địa chỉ tại phường M, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Khoảng 06 giờ 20 phút ngày 26/5/2024, Lê Minh Q đến phòng thay đồ ở tầng 2 thuộc tòa nhà L của Công ty để lấy chai dầu gội đầu trên nóc tủ cá nhân của Q, Q nhìn thấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, màu xanh của anh Phạm Minh T, là kỹ sư của Công ty TNHH L để trên nóc tủ cá nhân của anh T. Quan sát xung quanh thấy không có người, nên Q nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại trên, Q đi lại lấy chiếc điện thoại bỏ vào ba lô cá nhân của mình, sau đó cầm ba lô đi ra bên ngoài công ty đón xe về nhà ở thành phố T. Khi xe về đến điểm trả khách ở thành phố T, Q xuống xe, tháo sim trong chiếc điện thoại trộm cắp được ném xuống đường rồi đi bộ về nhà.
Sau khi hết ca làm việc anh T đến phòng thay đồ ở tầng 2 toà nhà Locker của Công ty trách nhiệm hữu hạn L để lấy đồ dùng cá nhân thì không nhìn thấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max của mình để trên nóc tủ trước đó, nên anh T sử dụng tính năng định vị trên chiếc đồng hồ của mình kết nối với chiếc điện thoại, xác định được chiếc điện thoại Iphone của anh đang ở phường T, thành phố T. Do nghi ngờ Lê Minh Q trộm cắp chiếc điện thoại của mình nên anh T đi đến nhà Lê Minh Q ở phường T, thành phố T yêu cầu Q trả lại chiếc điện thoại. Biết không thể chối cải được nên Q đã lấy chiếc điện thoại di động Iphone trộm cắp được trả lại cho anh T.
Tại Kết luận định giá tài sản số 50/KL-HĐĐGTS ngày 13/6/2024, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự UBND thị xã N kết luận: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, màu xanh, dung lượng 64Gb và sim số 0356260917 mà Lê Minh Q trộm cắp của anh Phạm Minh T trị giá 7.025.000 đồng (bảy triệu không trăm hai mươi lăm nghìn đồng) (BL 69).
Trong quá trình điều tra xác định, Lê Minh Q có biểu hiện tâm thần, nên ngày 22/8/2024 cơ quan CSĐT Công an thị xã N quyết định trưng cầu giám định tâm thần của Lê Minh Q. Tại kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 47/KLGĐ ngày 04/12/2024, Phân viện pháp y tâm thần B1, kết luận (BL 174, 175):
-
“- Tại thời điểm trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội (ngày 26/5/2024), bị can Lê Minh Q chưa bị bệnh tâm thần. Tại các thời điểm này, Lê Minh Q đủ khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.
-
- Tại thời điểm sau khi thực hiện hành vi phạm tội (trong thời gian điều trị vào điều trị nội trú đợt 1 từ ngày 07/6/2024, đến 01/7/2024 tại Bệnh viện T1) bị can Lê Minh Q bị bệnh: Rối loạn loạn thần cấp đa dạng không có các triệu chứng của bệnh tâm thần phân liệt, theo Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 (ICD 10), có mã bệnh là: F 23.0, (Giai đoạn bệnh cấp tính), Lê Minh Q mất khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.
-
- Tại thời điểm sau quá trình điều trị nội trú đợt 1 (từ ngày 07/6/2024, đến 01/7/2024) tại Bệnh viện T1 và tại thời điểm giám định, bị can Lê Minh Q bị bệnh: Rối loạn loạn thần cấp đa dạng không có các triệu chứng của bệnh tâm thần phân liệt, theo Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 (ICD 10), có mã bệnh là: F 23.0, (Giai đoạn bệnh thuyên giảm), Lê Minh Q hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi.”.
Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng sau: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, màu xanh, dung lượng 64Gb, số IMEI: 353925104697058, số IMEI2: 352925104615126, bên trong lắp sim số 0356260917 (do anh Phạm Minh T giao nộp) (BL 64, 65).
Sau khi định giá tài sản xác định thiệt hại và làm rõ nguồn gốc tài sản, xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại đã thu giữ nêu trên cho anh Phạm Minh T (BL 76, 77).
Về trách nhiệm dân sự: bị hại anh Phạm Minh T đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt nên không có yêu cầu đề nghị gì thêm về dân sự.
Tại bản Cáo trạng số 17/CT-VKSNS, ngày 20/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn đã truy tố Lê Minh Q về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm b, i, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật hình sự, Tuyên bố bị cáo phạm tội Trộm cắp tài sản.
Đề nghị xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ, bị cáo hiện tại không có công việc và không có thu nhập nên miễn khấu trừ thu nhập và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về bồi thường thiệt hại: bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt không có yêu cầu đề nghị thêm, nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max cho anh Phạm Minh T theo đúng quy định pháp luật, nên không xem xét.
Về án phí: bị cáo là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi (người khuyết tật) nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản như Cáo trạng đã truy tố; bị cáo không tranh luận với nội dung luận tội của Kiểm sát viên; Lời nói sau cùng bị cáo ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo và người bào chữa cho bị cáo đồng ý với tội danh, khung hình phạt, mức hình phạt và điều luật Viện kiểm sát đã truy tố và đề nghị áp dụng đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng, Quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an thị xã N, Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Căn cứ định tội, định khung hình phạt đối với bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 06 giờ 20 phút, ngày 26/5/2024, tại tầng 2 toà nhà Locker của Công ty TNHH L có địa chỉ tại phường M, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, Lê Minh Q có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, trị giá 7.025.000 đồng của anh Phạm Minh T, sinh năm 1991, trú tại xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An.
Hành vi trộm cắp tài sản trị giá 7.025.000 đồng của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản " theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Vì vậy, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Tính chất của vụ án ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Để pháp luật được tôn trọng, trật tự xã hội được duy trì, tài sản của công dân được bảo vệ; để giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục, trừng trị bị cáo và răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về nhân thân bị cáo là người có nhân thân tốt.
Tình tiết tăng nặng: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là “Người phạm tội tự nguyện khắc phục hậu quả”, “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình” và “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Ngoài ra bị hại anh Phạm Minh T xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Quyết định hình phạt: Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, trên cơ sở cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, phạm tội ít nghiêm trọng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, nên áp dụng Điều 36 Bộ luật hình sự cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng có thể cải tạo bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội.
Hiện tại bị cáo đang là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi, không có công việc và không có thu nhập nên miễn khấu trừ thu nhập và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về bồi thường thiệt hại: bị hại anh Phạm Minh T đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu, đề nghị gì thêm, nên không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Phạm Minh T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, màu xanh, dung lượng 64Gb, số IMEI: 353925104697058, số IMEI2: 352925104615126, bên trong lắp sim số 0356260917. Việc xử lý vật chứng của Cơ quan Cảnh sát điều tra là đúng quy định của pháp luật, nên HĐXX không xem xét.
[8] Về án phí: Bị cáo hiện tại đang là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi (người khuyết tật) nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm b, i, q, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật hình sự. Tuyên bố Lê Minh Q, phạm tội Trộm cắp tài sản
-
Xử phạt Lê Minh Q 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thị xã N, tỉnh Thanh Hóa nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Lê Minh Q cho UBND phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với UBND phường T trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.
Miễn khấu trừ thu nhập và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
-
Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.
-
Quyền kháng cáo: bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo và người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Sơn |
Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 15/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Minh Q trộm cắp tài sản
