Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HS-ST

Ngày 18 tháng 02 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Chân.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Mỹ Hường, bà Lê Thị Thanh Vân.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Kiệt - Thư ký Tòa án nhân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Tùng Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Minh T (tên gọi khác Tín B), sinh ngày 15 tháng 10 năm 1995, tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Số I, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: không; con ông Nguyễn Minh H và bà Phạm Thị Cẩm L; chung sống như vợ chồng với Đỗ Thị Hoàng Q, chưa có con;

Tiền án: Có 02 tiền án.

- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 97/2021/HS-ST ngày 24/9/2021, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 09 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 29/12/2021, chấp hành xong hình phạt tù; chưa xóa án tích do chưa đóng án phí hình sự sơ thẩm;

- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 61/2023/HS-ST ngày 07/6/2023, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 09 tháng tù, về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, đến ngày 11/02/2024, chấp hành xong hình phạt tù.

Tiền sự: Không;

Nhân thân: Tại Quyết định số 48/QĐ-TA ngày 31/3/2017, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 18 tháng, về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, đến ngày 22/7/2018, chấp hành xong quyết định;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/8/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L; có mặt.

Bị hại: Ông Phạm Văn H1, sinh năm 1982; nơi cư trú: Số I, tổ E, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; vắng mặt.

Người làm chứng: Ông Lưu Đức P và ông Huỳnh Tấn Ấ; ông P, ông Á đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do cần tiền tiêu xài nên khoảng 18 giờ ngày 06/8/2024, Nguyễn Minh T đi bộ về nhà ông Phạm Văn H1 (cậu ruột của T, T chung sống tại nhà của ông H1) thuộc số I, tổ E, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, thì thấy xe mô tô biển số 67B1 – 297.32 của ông H1 dựng trong nhà, nhưng không người trông giữ, nên T đã lén lút lấy trộm xe mô tô biển số 67B1 – 297.32 rồi điều khiển đến nhà của Huỳnh Tấn Á thuộc số A, đường N, khóm B, phường M, thành phố L để thế chấp xe mô tô cho Á với số tiền 900.000 đồng, tiêu xài cá nhân, nhưng không cho Á biết xe này do phạm tội mà có. Đến ngày 08/8/2024, T trả cho Á 500.000 đồng, còn nợ 400.000 đồng. Ngày 11/8/2024, T gặp Nguyễn Thanh T1 khu vực gần cầu T, thuộc phường M, thành phố L mượn của T1 800.000 đồng, sau đó T gặp Á trả 800.000 đồng (400.000 đồng thế chấp xe còn nợ, 300.000 đồng nợ cũ, 100.000 đồng cho Á), thì Á đưa lại xe mô tô 67B1 – 297.32 cho T mang về thế chấp lại cho T1 và mượn thêm 300.000 đồng, cũng không cho T1 biết xe do phạm tội mà có. Sau đó, ông H1 đến Công an phường M trình báo việc mất trộm xe mô tô 67B1 – 297.32. Đến 14 giờ ngày 12/8/2024, T đến Công an phường M đầu thú.

* Vật chứng và tài sản thu giữ là tài sản lấy trộm nêu trên.

* Kết luận định giá tài sản số 1415/KL-HĐĐGTS ngày 15/8/2024 của Hội đồng định giá đối với tài sản lấy trộm nêu trên là: 01 xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu Honda Citi, loại xe số, màu sơn đỏ, số máy CT100E1318717, số khung C100F1318652, biển số 67B1-297.32, trị giá 7.000.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác.

Tại Cáo trạng số: 38/CT-VKSLX ngày 22 tháng 01 năm 2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố Nguyễn Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây được viết tắt là Bộ luật Hình sự).

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Minh T khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.

Bị hại, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra, truy tố đã trình bày ý kiến, nội dung phù hợp với Cáo trạng nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Về xử lý vật chứng: đã giao trả cho bị hại nên không đề cập giải quyết. Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường thiệt hại, nên không xem xét.

Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Tại phiên tòa, bị hại ông H1, người làm chứng ông Á, ông P vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

- Đối với Nguyễn Thanh T1, Huỳnh Tất Á1 có hành vi cầm cố, thế chấp xe mô tô do bị cáo phạm tội mà có; Lưu Đức P bảo bị hại gặp T1 để chuộc lại xe, nhưng Á1, P không biết tài sản này do phạm tội mà có, T1 không có mặt tại địa phương, ngoài lời khai không còn chứng cứ nào khác để chứng minh hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, điều tra xử lý sau là phù hợp với quy định pháp luật.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Minh T đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ để kết luận:

Vào khoảng 18 giờ ngày 06/8/2024, tại nhà ở của ông Phạm Văn H1 thuộc số I, tổ E, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, bị cáo Nguyễn Minh T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt xe mô tô của ông Phạm Văn H1 (giá trị tài sản 7.000.000 đồng).

Ngày 24/9/2021, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 29/12/2021, chấp hành xong hình phạt tù, nhưng chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm. Đến ngày 07/6/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt 09 tháng tù, về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” với tình tiết tăng nặng “tái phạm”, đến ngày 11/02/2024, chấp hành xong hình phạt tù. Xét thấy, bị cáo đã tái phạm, chưa được xoá án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Căn cứ theo điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 2015, hành vi của bị cáo T là tái phạm nguy hiểm.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Minh T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung tăng nặng “tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Vì vậy, cần phải xét xử thật nghiêm mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Lẽ ra, phải lao động tích cực, để tạo ra thu nhập chính đáng chăm lo cho cuộc sống bản thân. Nhưng ngược lại, vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải tốn nhiều công lao động nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với lỗi cố ý. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 02 tiền án nhưng tình tiết này đã được Bộ luật Hình sự quy định là định khung hình phạt nên không coi là tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải; sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đến Công an phường M đầu thú hành vi phạm tội; được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy: Bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo thuộc tội phạm nghiêm trọng. Ngoài ra, trước khi phạm tội là người có nhân thân xấu, ngoài 02 tiền án, bị cáo từng bị đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc. Điều đó, chứng tỏ bị cáo là người rất xem thường pháp luật nên việc áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc là cần thiết nhằm giáo dục răn đe và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy, bị cáo không có thu nhập và nghề nghiệp ổn định, không có tài sản, nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng, tài sản đã thu giữ: Sau khi điều tra xác minh làm rõ, Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô biển số 67B1-297.32 cho chủ sở hữu hợp pháp nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết tiếp.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu bồi thường thiệt hại gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 02 (hai) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 12/8/2024).

Bị cáo Nguyễn Minh T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Long Xuyên;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Nhà tạm giữ Công an TP. Long Xuyên;
  • - CQĐT Công an TP. Long Xuyên;
  • - Chi cục THADS TP. Long Xuyên;
  • - Bộ phận THA Tòa án;
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quang Chân

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 15/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do cần tiền tiêu xài nên khoảng 18 giờ ngày 06/8/2024, Nguyễn Minh Tín đi bộ về nhà ông Phạm Văn Hòa (cậu ruột của Tín, Tín chung sống tại nhà của ông Hòa) thuộc số 914/12B, tổ 57, khóm Đông Thịnh 4, phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, thì thấy xe mô tô biển số 67B1 – 297.32 của ông Hòa dựng trong nhà, nhưng không người trông giữ, nên Tín đã lén lút lấy trộm xe mô tô biển số 67B1 – 297.32 rồi điều khiển đến nhà của Huỳnh Tấn Ất thuộc số 174/7, đường Nguyễn Thái Học, khóm Bình Long 4, phường Mỹ Bình, thành phố Long Xuyên để thế chấp xe mô tô cho Ất với số tiền 900.000 đồng, tiêu xài cá nhân, nhưng không cho Ất biết xe này do phạm tội mà có. Đến ngày 08/8/2024, Tín trả cho Ất 500.000 đồng, còn nợ 400.000 đồng. Ngày 11/8/2024, Tín gặp Nguyễn Thanh Toàn khu vực gần cầu Tầm Bót, thuộc phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên mượn của Toàn 800.000 đồng, sau đó Tín gặp Ất trả 800.000 đồng (400.000 đồng thế chấp xe còn nợ, 300.000 đồng nợ cũ, 100.000 đồng cho Ất), thì Ất đưa lại xe mô tô 67B1 – 297.32 cho Tín mang về thế chấp lại cho Toàn và mượn thêm 300.000 đồng, cũng không cho Toàn biết xe do phạm tội mà có. Sau đó, ông Hòa đến Công an phường Mỹ Phước trình báo việc mất trộm xe mô tô 67B1 – 297.32. Đến 14 giờ ngày 12/8/2024, Tín đến Công an phường Mỹ Phước đầu thú
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger