Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC TÂN UYÊN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HS-ST

Ngày: 18 - 02 – 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ngọc Lan.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Đoàn Văn Lước;
  2. Bà Võ Thị Tuyết Nhung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị An - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 124/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Võ Vĩnh T, sinh năm 1992, tại Tây Ninh; nơi đăng ký thường trú: Tổ A, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nơi tạm trú: Tổ A, ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Duy N và bà Huỳnh Thị X. Bị cáo có vợ tên Hồ Thị Bé H, có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2012. Tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/8/2024 cho đến nay. Có mặt.

- Bị hại:

1/ Ông Trần Trung K, sinh năm 2000. Nơi đăng ký thường trú: Khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau; nơi tạm trú: Ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin vắng mặt.

1/ Ông Trần Trung N1, sinh năm 2002 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại Trần Trung N1: Bà Lê Thị L, sinh năm 1975. Nơi đăng ký thường trú: Khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau; nơi tạm trú: Ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn dân sự: Công ty TNHH Một thành viên G. Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn dân sự: Ông Trần Công T1, sinh năm 1981. Nơi đăng ký thường trú: Tổ C, ấp B, xã N, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Nơi tạm trú: Phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Lê Thị L, sinh năm 1975. Nơi đăng ký thường trú: Khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau; tạm trú: Ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Võ Vĩnh T có giấy phép lái xe hạng C số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 04/3/2021 có giá trị đến ngày 04/3/2026.

Khoảng 07 giờ 15 phút ngày 24/6/2024, bị cáo điều khiển xe ô tô tải biển số 61C-268.68 lưu thông trên đường T 02 theo hướng từ Công ty P về đường T 01. Khi lưu thông đến đoạn đường thuộc khu vực ấp A, xã T, huyện B, do đoạn đường T 02 cong nên bị cáo điều khiển xe ô tô lấn sang phần đường bên trái theo hướng lưu thông. Lúc này, bị cáo nhìn thấy phía trước cách xe ô tô do bị cáo điều khiển khoảng 39 mét có xe mô tô biển số 69N1- 694.89 do Trần Trung N1 điều khiển chở anh ruột là Trần Trung K lưu thông theo chiều ngược lại. Thấy vậy, bị cáo đánh lái xe ô tô biển số 61C-268.68 sang lề phải đồng thời đạp phanh giảm tốc độ. Tuy nhiên, xe ô tô biển số 61C-268.68 do bị cáo điều khiển chưa qua hết phần đường bên phải theo hướng lưu thông thì đầu trước bên trái xe ô tô va chạm với đầu xe mô tô biển số 69N1-69.489 làm ông N1 và ông K cùng xe mô tô ngã xuống đường. Hậu quả làm xe mô tô biển số 69N1-69.489 hư hỏng, ông K bị thương tích nhẹ, ông N1 bị thương tích nặng được đưa đến Bệnh viện đa khoa huyện T, tỉnh Đồng Nai cấp cứu. Đến ngày 27/6/2024 thì ông N1 tử vong.

Kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện và xác định hiện trường vụ tai nạn xác định: Hiện trường vụ tai nạn là đoạn đường T 02 thuộc khu vực ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương. Đoạn đường T 02 cong, trải nhựa bằng phẳng, có chiều rộng mặt đường là 05 mét, hai bên đường có cây cỏ mọc dọc theo lề đường, đường có đặt biển báo hiệu nguy hiểm đoạn đường cong. Chọn hướng lưu thông từ đường T 01 đến Công ty P theo hướng xe mô tô 69N1-69.489 do ông Nguyễn điều K1 để làm chiều hướng do vẽ và xác định hiện trường vụ tai nạn. Căn cứ vào dấu vết để lại tại hiện trường, dấu vết va chạm trên hai phương tiện là xe ô tô biển số 61C-268.68 và xe mô tô biển số 69N1-69.489 xác định: Sau khi va chạm xe ô tô dừng trên đường T 02, đầu xe hướng về đường T, đuôi xe hướng về Công ty P, trục trước bên trái cách lề chuẩn 2,6 mét, trục sau bên trái cách lề chuẩn 2,2 mét. Sau va chạm xe mô tô ngã về phần bên phải trên đường T 02, đầu xe hướng vào lề chuẩn, phần đuôi xe hướng vào lề trái, trục trước cách lề chuẩn 1,1 mét, trục sau cách lề chuẩn 02 mét, trục sau cách trục trước bên trái xe ô tô là 01 mét. Hiện trường để lại vết phanh có chiều dài 1,8 mét hướng từ Công ty P về đường T, điểm đầu vết phanh cách mép lề chuẩn là 2,2m, điểm cuối vết phanh trùng với vị trí dừng của lốp trục sau bên trái xe ô tô tải biển số 61C-268.68. Hiện trường vụ tai nạn để lại nhiều mảnh nhựa vỡ kéo dài từ vị trí trục sau bên trái xe ô tô tải 61C-268.68 đến vị trí xe mô tô 69N1-69.489 có kích thước là 6,2 x 03mét. Điểm va chạm giữa hai phương tiện cách mép lề chuẩn 2,5 mét cách trục trước bên trái của xe ô tô là 1,3 mét.

Tại Biên bản khám nghiệm tử thi ngày 27/6/2024 và Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 3124/KLGĐTT-KTHS ngày 02/7/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận: Nguyên nhân tử vong của nạn nhân Trần Trung N1 do đa chấn thương.

Kết luận tổn thương cơ thể trên cơ thể người sống số 1031/KLTTCT-TTPYĐN ngày 27/9/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận ông Trần Trung K: Chấn thương đầu và mặt đã khỏi hiện tại không để lại dấu vết, không để lại di chứng và không ảnh hưởng chức năng nên không định tỷ lệ chấn thương của ông K tại thời điểm giám định.

Kết luận định giá tài sản số 55/KL-HĐĐGTS ngày 20/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B xác định thiệt hại về tài sản của xe mô tô biển số 69N1-694.89 khi xảy ra va chạm là 3.067.000 đồng (Ba triệu không trăm sáu mươi bảy nghìn đồng).

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B tạm giữ các tài liệu, phương tiện có liên quan gồm:

  • 01 (một) xe mô tô biển số 69N1-69.489;
  • 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 69N1-69.489;
  • 01 (một) Giấy phép lái xe ô tô hạng A1 số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 04/3/2021 mang tên Trần Trung N1;
  • 01 (một) ô tô biển số 61C-268.68;
  • 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển số 61C-268.68;
  • 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 61C-268.68;
  • 01 (một) Giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 04/3/2021 mang tên Võ Vĩnh T có giá trị sử dụng đến ngày 04/3/2026.

Xe ô tô biển số 61C-268.68 do Công ty TNHH Một thành viên G Lê Trung C đứng tên chủ sở hữu. Công ty này do bà Ngô Thị Thu T2, sinh năm 1964, Nơi đăng ký thường trú: số A khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai làm Giám đốc và là người đại diện theo pháp luật. Ngày 24/6/2024, công ty giao xe này cho bị cáo chở hàng giao cho khách, trên đường về công ty thì xảy ra tai nạn làm ông Trần Trung N1 tử vong. Ngày 05/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B ban hành quyết định xử lý đồ vật tài liệu số 862 trả lại xe này cùng Giấy chứng nhận kiểm định, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 61C-268.68 cho ông Trần Công T1 là người đại diện theo ủy quyền của bà T2.

Xe mô tô biển số 69N1-69.489 do bà Lê Thị L (mẹ ruột bị hại) đứng tên chủ sở hữu. Ngày 24/6/2024, bà L để xe này ở nhà và Trần Trung N1 điều khiển xe chở anh ruột là Trần Trung K đi làm và xảy ra tai nạn. Ngày 05/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B ban hành quyết định xử lý đồ vật tài liệu số 862 trả lại xe này cùng Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 69N1-69.489, Giấy phép lái hạng A1 mang tên Trần Trung N1 cho bà L.

Giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 04/3/2021 mang tên Võ Vĩnh T là tài sản cá nhân của T.

- Về trách nhiệm dân sự:

  • + Bị cáo Võ Vĩnh T đã bồi thường cho bà L là mẹ ruột của bị hại Trần Trung N1 số tiền số tiền 105.000.000 đồng (một trăm lẻ năm triệu đồng) gồm chi phí mai táng và chi phí điều trị thương tích cho bị hại N1. Bà L đã làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không có yêu cầu bồi thường gì khác.
  • + Bị hại Trần Trung K không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại.

Tại bản Cáo trạng số 03/CT-VKSBTU-HS ngày 09/12/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Võ Vĩnh T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát không bổ sung, thay đổi quan điểm truy tố, đồng thời giữ nguyên nội dung truy tố bị cáo Võ Vĩnh T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Võ Vĩnh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự, đồng thời áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị tuyên trả lại cho bị cáo Giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 04/3/2021 mang tên Võ Vĩnh T.

Bị cáo Võ Vĩnh T thành khẩn nhận tội và không đối đáp, tranh luận gì khác về tội danh và các vấn đề khác theo đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát. Về hình phạt, bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.

Lời khai của bị hại (Trần Trung K), đại diện hợp pháp của bị hại Trần Trung N1 (bà L), đại diện hợp pháp của bị đơn dân sự (ông T1) và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (bà L) trong quá trình điều tra thống nhất với lời khai của bị cáo, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để tự cải sửa, lao động nuôi con nhỏ và làm người công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Cơ quan điều tra, điều tra viên, Kiểm sát viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng, đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục điều tra, truy tố theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện Kiểm sát nên các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, Điều tra viên, Kiểm sát viên đều hợp pháp.

[2] Về việc vắng mặt của bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại; đại diện hợp pháp của bị đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Những người tham gia tố tụng này đã có đơn xin xét xử vắng mặt, quá trình điều tra đã có lời khai rõ ràng, yêu cầu cụ thể về vụ án. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát, bị cáo Võ Vĩnh T không có yêu cầu triệu tập những người tham gia tố tụng vắng mặt đến phiên tòa để làm rõ các tình tiết có liên quan đến vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại; đại diện hợp pháp của bị đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án theo Luật định.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Có đủ căn cứ kết luận khoảng 07 giờ 15 phút ngày 24/6/2024, bị cáo điều khiển xe ô tô tải biển số 61C-268.68 lưu thông trên đường T 02 theo hướng từ Công ty P về đường T 01. Khi lưu thông đến đoạn đường thuộc khu vực ấp A, xã T, huyện B, do đoạn đường T 02 cong nên bị cáo điều khiển xe ô tô lấn sang phần đường bên trái theo hướng lưu thông. Khi phát hiện xe bị hại lưu thông theo chiều ngược lại, bị cáo đánh lái xe ô tô biển số 61C-268.68 sang lề phải đồng thời đạp phanh giảm tốc độ. Tuy nhiên, xe ô tô biển số 61C-268.68 do bị cáo điều khiển chưa qua hết phần đường bên phải theo hướng lưu thông thì đầu trước bên trái xe ô tô va chạm với đầu xe mô tô biển số 69N1-69.489 làm ông N1 và ông K cùng xe mô tô ngã xuống đường.Tai nạn làm bị hại K bị thương tích nhẹ, bị hại N1 tử vong tại bệnh viện vào ngày 27/6/2024. Do đó, Cáo trạng số 03/CT-VKSBTU-HS ngày 09/12/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Võ Vĩnh T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng, người đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[4] Hành vi điều khiển xe ô tô tham gia giao thông nhưng không đi bên phải theo chiều đi của mình, lấn trái đường, gây tai nạn làm bị hại Trần Trung N1 tử vong. Hành vi không chấp hành pháp luật của bị cáo đã gây ra cái chết thương tâm cho bị hại, gây đau thương mất mát cho gia đình bị hại, đồng thời ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do vậy, cần phải xử phạt bị cáo với mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi vi phạm và hậu quả mà bị cáo đã gây ra nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt, chấp hành nghiêm pháp luật khi tham gia giao thông và cũng nhằm răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại để khắc phục hậu quả; bị hại có ý kiến đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, được Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, việc không cách ly bị cáo ra khỏi xã hội không ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phương. Do vậy, căn cứ Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018, Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cho bị cáo được hưởng án treo. Giao bị cáo về địa phương nơi bị cáo cư trú để quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7] Trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 105.000.000 đồng và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về xử lý vật chứng:

  • - Xe ô tô biển số 61C-268.68 do Công ty TNHH Một thành viên G Lê Trung C đứng tên chủ sở hữu. Ngày 08/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã giao trả cho ông Trần Công T1 - đại diện hợp pháp của công ty cùng với 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển số 61C-268.68; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển số 61C-268.68 theo Quyết định xử lý vật chứng số 862 ngày 05/8/2024.
  • - Xe mô tô biển số 69N1-69.489 do bà Lê Thị L (mẹ ruột bị hại) đứng tên chủ sở hữu; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 69N1-69.489; 01 (một) Giấy phép lái xe ô tô hạng A1 số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 04/3/2021 mang tên Trần Trung N1. Ngày 26/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã giao trả cho bà Lê Thị L theo Quyết định xử lý vật chứng số 862 ngày 05/8/2024.
  • - Đối với Giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 04/3/2021 mang tên Võ Vĩnh T là tài sản cá nhân của bị cáo nên cần tuyên trả cho bị cáo.

[9] Xét ý kiến luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị về tội danh, điều luật, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử lý vật chứng là phù hợp, được Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với hình phạt, Kiểm sát viên không đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo là chưa đánh giá hết về nhân thân và những điều kiện được hưởng án treo như Hội đồng xét xử đã nhận định trên đây.

[10] Án phí hình sự và dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 106, 136, 260, 268, 269, 277, 290, 292, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ;

Căn cứ Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018, Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố bị cáo Võ Vĩnh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Võ Vĩnh T 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xét xét.
  4. Về xử lý vật chứng:

    Trả cho bị cáo số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 04/3/2021 mang tên Võ Vĩnh T.

    (Theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 25/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Tân Uyên).

  5. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Võ Vĩnh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).
  6. Về quyền kháng cáo:

    Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại; người đại diện hợp pháp của bị đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương (01);
  • - VKSND tỉnh Bình Dương (01);
  • - Phòng PV 06, Công an T. Bình Dương (01);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương (01);
  • - VKSND huyện Bắc Tân Uyên (01);
  • - Công an huyện Bắc Tân Uyên (01);
  • - Bị cáo (01);
  • - Chi cục THADS huyện Bắc Tân Uyên (01);
  • - Người tham gia tố tụng (04);
  • - Lưu: HSVA, VT (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Ngọc Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)

  • Số bản án: 15/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: VÕ VĨNH THỊNH - ĐIỀU 260 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger