Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/DS-PT

Ngày: 17-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: bà Phạm Thị Thúy Quỳnh.

Các Thẩm phán: bà Trần Thị Thúy Ngọc và bà Nguyễn Thị Thanh Nga.

- Thư ký phiên toà:

bà Nguyễn Thị Thúy Nga - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà:

bà Nguyễn Thị Tuyết Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 17/02/2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An, xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự phúc thẩm thụ lý số 141/2024/TLPT-DS ngày 06 tháng 12 năm 2024 về “Yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất” do Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2024/DS-ST ngày 03/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 236/2024/QĐPT-DS ngày 27/12/2024, Quyết định hoãn phiên toà số 17/2025/QĐPT-DS ngày 10/01/2025 của Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

ông Mai Quang C, sinh năm 1960 và bà Trần Thị C1, sinh năm 1962; địa chỉ: xóm L, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.

Ông Mai Quang C vắng mặt, bà Trần Thị C1 có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền: bà Hoàng Thị Hà P, sinh năm 1994; địa chỉ: số C, đường H, phường H, thành phố V, Nghệ An. Có mặt.

Bị đơn:

1. Ông Đặng Thiên H, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1968; cùng địa chỉ: thôn G, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và nghĩa vụ hợp pháp của bị đơn: ông Thái Hồng H1, sinh năm 1951; Luật sư Văn phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh N; Địa chỉ: số I, ngõ C, đường L, phường H, thành phố V, Nghệ An. Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1981. Địa chỉ: xóm E, xã C, huyện H, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

1

2. Ủy ban nhân dân xã N; địa chỉ: xóm P, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An do ông Phan Công V- Chủ tịch UBND xã N là người đại diện theo pháp luật. Vắng mặt.

· Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Phạm Văn V1, sinh năm 1974; địa chỉ: xóm Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

+ Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1959; địa chỉ: xóm L, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

+ Bà Trần Thị L, sinh năm 1963; địa chỉ: xóm N, Xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

Người kháng cáo, bị đơn ông Đặng Thiên H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 17/10/2023, và các lời khai tiếp theo cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, ông Mai Quang C trình bày:

Vợ chồng ông Mai Quang C, bà Trần Thị C1 cùng vợ chồng ông Đặng Thiên H, bà Nguyễn Thị Đ là hàng xóm, láng giềng cùng sinh sống trên địa bàn xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An từ lâu. Năm 1997, ông Mai Quang C có trực tiếp mua của ông Đặng Thiên H một diện tích đất nông nghiệp với giá 2.700.000 đồng và các bên giao nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nhau. Hai bên thỏa thuận bằng miệng, không viết văn bản chuyển nhượng đất mà chỉ viết giấy trả tiền. Giấy trả tiền này, ông C khẳng định là do ông H viết. Diện tích đất khi mua là 3.134m² gồm 06 thửa tại các xứ đồng Bụi Bục; Đông Chánh (xứ này có 02 thửa); Cụ T1; V; Nhà Lục. Năm 2010, theo chủ trương chỉnh sửa quản lý đất đai, theo kết quả đo vẽ, xác định lại thì các thửa đất cũng thay đổi về diện tích, tên gọi: 1. Thửa 334: 731m²; 2. Thửa 279: 852,7m²; 3. Thửa 29: 708m²; 4. Thửa 53: 606,8m²; 5. Thửa 56: 331,4m². Tổng diện tích lúc này là 3.230m². Năm 2014, thực hiện chủ trương của Nhà nước về dồn điền, đổi thửa, các thửa đất trên được xác định tại bản đồ địa chính là các thửa: 1. Thửa 2077: 930m² 2. Thửa 1022: 1526,7m² 3. Thửa 1042: 339,7m².

Về quá trình sử dụng đất, ông Mai Quang C, bà Trần Thị C1 khai: Năm 1997, ông mua lại toàn bộ diện tích đất này từ ông Đặng Thiên H và chưa làm thủ tục sang tên chuyển chủ; Hai bên thống nhất mua bán bằng miệng với giá 2.700.000 đồng và viết giấy trả tiền. Ông nhận và giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSD đất) và sau này cho anh Phạm Văn B mượn đi tách đất ở (do ông H, bà Đ bán đất ở cho anh B) với giá trị mượn bìa là 3.000.000 đồng. Do GCNQSD đất trong quá trình anh B đi làm thủ tục tách thửa chuyển nhượng đã bị UBND huyện N thu giữ nên ông vẫn còn giữ của anh B số tiền 3.000.000 đồng này; Năm 2010, Ủy ban nhân dân (UBND) xã đã có văn bản giao cho ông sử dụng toàn bộ thửa đất này được thể hiện tại Phiếu giao nhận diện tích, loại đất ngày 02/6/2010; Trong thời gian từ 1997 đến 2014, ông C1 có hỗ trợ cho bà Đ 1.000.000 tiền phí thủy lợi;

2

Năm 2014, ban dồn điền đổi thửa xét không có hồ sơ chuyển nhượng đất nên bàn giao toàn bộ diện tích đất trên cho gia đình ông H nên ông không sản xuất trên thửa đất này (ngoại trừ phần diện tích nằm chung trong thửa đất 1035 của ông nên ông vẫn đang tiếp tục sử dụng). Năm 2022, ông khiếu nại lên UBND xã N và Chủ tịch UBND xã N đã ban hành Quyết định 522/QĐ-UBND ngày 28/4/2022, không chấp nhận khiếu nại của ông. Nay, vợ chồng ông làm đơn khởi kiện lên Tòa án, đề nghị:

  1. Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 3.230m² đất nông nghiệp bằng miệng giữa ông và ông Đặng Thiên H là có hiệu lực pháp luật.
  2. Công nhận quyền sử dụng 3.230m² đất nông nghiệp cho ông đối với các thửa đất 2077, 1022, 1042, một phần trong thửa 1035 tờ bản đồ số 13 và 15 tại xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.
  3. Tuyên hủy quyết định số 522/QĐ-UB ngày 28/4/2022 của Chủ tịch UBND xã N về việc giải quyết khiếu nại đối với ông.
  4. Buộc ông Đặng Thiên H và bà Nguyễn Thị Đ phải trả lại cho ông bà toàn bộ 3.230m² đất nông nghiệp nêu trên. Trường hợp hợp đồng chuyển nhượng nói trên vô hiệu thì đề nghị Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật.

Bị đơn là ông Đặng Thiên H và bà Nguyễn Thị Đ trình bày:

Ông bà cùng vợ chồng ông C1 ở cùng làng. Năm 1997, ông H thường xuyên cờ bạc nên đã cắm đất, giao bìa cho ông C1. Việc giao dịch vay mượn 2.700.000 đồng cũng như giao dịch về đất thì bà Đ không biết. Mãi đến lúc bán đất ở cho anh B cuối năm 1997 và gia đình bà chuyển về huyện N, tỉnh Hà Tĩnh sinh sống thì bà mới biết ông C1 đang cầm GCNQSD đất của gia đình bà. Trong thời gian từ năm 1997 đến 2014, do nhu cầu xin giấy tờ cho con ở xã nên bà đã phải đóng toàn bộ chi phí thuế má, thủy lợi phí và có nhận hỗ trợ 1.000.000 đồng từ ông C1. Năm 2014, gia đình bà được giao lại toàn bộ thửa đất trên, gia đình ông C1 biết nhưng mãi đến năm 2022 mới khiếu nại và khởi kiện. Ông bà khẳng định là không có việc mua bán, chuyển nhượng mà chỉ là cầm cố, làm tin do ông H vay tiền cờ bạc đồng thời yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện trong vụ tranh chấp.

Bà Nguyễn Thị Đ khẳng định: năm 1997, bà không biết việc ông H giao dịch gì về đất sản xuất nông nghiệp: Do không biết nên sau đó tại các buổi hòa giải ở địa phương, bà dùng từ chuyển nhượng ... chứ thực ra không có việc đó. Từ năm 2014 đến 2016, có 01 thửa hơn 300m² nằm trong thửa đất lớn của ông C1 do ông C1 sản xuất, ông bà H sản xuất trên các thửa đất còn lại, sau đó, 01 thửa bán cho anh Phạm Văn V1 từ năm 2016 với giá 100.000.000 đồng, hiện tại anh V1 đang sử dụng thửa đất này. Năm 2016 đến 2018, bà cho chị dâu là Phạm Thị T2 sản xuất trên một thửa sau đó bà T2 trả lại đất. Như vậy, trong số 04 thửa đất theo bản đồ địa chính hiện nay, 01 thửa do ông C1 sản xuất; 01 thửa do ông V1 quản lý, còn 02 thửa đất khác đang bỏ hoang. Về chứng cứ, ông H khẳng định chỉ vay tiền đánh bạc và cầm GCNQSD đất. Ông giao dịch trực tiếp với ông C1 và nhận từ ông C1

3

số tiền 2.700.000 đồng; Tờ giấy viết trả tiền ông C1 giao nộp cho Tòa không phải do ông viết và ông không rõ nội dung trong đó.

Tại phiên tòa, ông H và bà Đ cũng như người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông bà từ chối giám định giấy trả tiền nói trên.

Bị đơn là ông Đặng Thiện H3 và bà Nguyễn Thị Đ không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và khẳng định toàn bộ diện tích đất nông nghiệp mà ông Mai Quang C đòi là của mình; ông bà không giao dịch, mua bán và số tiền 2.700.000 đồng ông H3 nhận là giá trị thuê đất từ năm 1997 đến 2014 mà ông đã mượn để đánh bạc. Ngoài các nội dung trên, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Đặng Thiên H, bà Nguyễn Thị Đ đề nghị Tòa án xác định lại tư cách tham gia tố tụng của bà Nguyễn Thị Đ là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chứ không phải là bị đơn.

Anh Trần Xuân B1 khai: anh mua nhà và diện tích đất ở của ông H, bà Đ vào khoảng năm 1996, sau đó ông bà chuyển vào Hà Tĩnh ở. Khi đó, anh phải chuộc GCNQSD đất của ông H bà Đ từ ông C với giá 3.000.000 đồng. Anh không rõ việc mua bán chuyển nhượng hay như thế nào giữa ông C, ông H, bà Đ về đất nông nghiệp. Hiện tại, anh B1 đang giữ GCNQSD đất của ông H bà Đ nhưng anh không đồng ý cung cấp thông tin, không cho y sao, hoặc giao nộp cho Tòa án.

Anh Phạm Văn V1 khai: đã mua 01 thửa đất của ông H, bà Đ từ năm 2016 và hiện tại đang quản lý, sử dụng. Thửa đất đó, theo anh là mua bán có Hợp đồng và đang xin xác nhận tại UBND xã N.

Những người làm chứng như ông Đặng Thiên S ... trong ban dồn điền đổi thửa ngày trước cũng khai nhận là do không có thủ tục giấy tờ gì thể hiện sự chuyển nhượng nên vẫn tiếp tục giao đất cho gia đình ông H vào năm 2014.

UBND xã N khẳng định khiếu nại của ông Mai Quang C là không có căn cứ pháp lý bởi việc mua bán chuyển nhượng không có căn cứ chứng minh nên không chấp nhận khiếu nại của ông. Đồng thời khẳng định Quyết định số 522/QĐ-UBND ngày 28/4/2022 của Chủ tịch UBND xã N là đúng quy định của pháp luật. Qua lời khai, UBND xã N khẳng định hộ ông Đặng Thiên H và bà Nguyễn Thị Đ được cấp đất, được UBND huyện N cấp GCNQSD đất theo Nghị định 64 và các thửa đất qua các kì dồn điền, đổi thửa thì nay là các thửa đất tranh chấp qua xem xét thẩm định tại chỗ.

Ngày 25/7/2024, Tòa án nhân dân huyện Nghi Lộc đã tiến hành thành lập hội đồng xem xét thẩm định và định giá tài sản trên phần đất tranh chấp, thấy:

Về đất, gồm có 04 thửa: - Thửa 2077, tờ bản đồ số 13 có diện tích 817,2m² tại vùng vườn Cũ, xóm Làng, xã N - Thửa 1002, tờ bản đồ số 15 có diện tích 1.314,6m² tại vùng Đ, xóm Làng, xã N - Thửa 1042, tờ bản đồ số 15 có diện tích 339,7m² tại vùng Đ, xóm Làng, xã N. - Một phần thửa 1035, tờ bản đồ số 15 có

4

diện tích 429m² (trong số 6.856m² ông C đang sản xuất) tại vùng xứ Bàu nhà L1, xóm Làng, xã N.

Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Bị đơn nhất trí như ý kiến của người mà mình làm đại diện và bảo vệ.

Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2024/DS-ST ngày 03 tháng 10 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc đã quyết định: Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 116; Điều 117; Điều 118; Điều 119; Điều 131; Điều 213 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Toà án, xử:

Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Mai Quang C và bà Nguyễn Thị C2 về việc yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bằng lời với ông Đặng Thiên H cũng như không công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp của ông Mai Quang C và bà Nguyễn Thị C2 đối với các thửa đất số 2077, tờ bản đồ số 15; thửa 1002, 1042 và một phần thửa đất 1035 thuộc tờ bản đồ số 13 có tổng diện tích 2.900,5m² tại xóm Làng, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Tuyên bố giao dịch dân sự bằng miệng nói trên là vô hiệu.

Buộc ông Đặng Thiên H, bà Nguyễn Thị Đ phải hoàn trả lại cho ông Mai Quang C, bà Nguyễn Thị Đ số tiền 348.060.000 đồng (ba trăm bốn tám triệu không trăm sáu mươi nghìn đồng) tương ứng với 50% lỗi trong giao dịch dân sự vô hiệu. (có sơ đồ các thửa đất ban hành theo bản án).

Không chấp nhận yêu cầu tuyên hủy Quyết định số 522/QĐ-UBND ngày 28/4/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An của ông Mai Quang C và bà Nguyễn Thị C2.

Bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 14 tháng 10 năm 2024, ông Đặng Thiên H kháng cáo với nội dung: kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc.

Tại phiên toà, ông Đặng Thiên H giữ nguyên toàn bộ nội dung kháng cáo.

Tại phiên tòa, nguyên đơn tự nguyện giao lại diện tích 429m² cho bị đơn và đồng ý tháo giỡ toàn bộ các tài sản của nguyên đơn trên diện tích đất tranh chấp và thu hoạch lúa đang trồng; nguyên đơn đề nghị bị đơn phải chịu chi phí tố tụng mà nguyên đơn đã bỏ ra.

Bị đơn đồng ý nhận lại diện tích đất mà nguyên đơn đồng ý trả, không đồng ý chịu chi phí tố tụng mà nguyên đơn đã bỏ ra.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An nêu quan điểm: Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân

5

sự và các văn bản quy phạm pháp luật từ khi thụ lý giải quyết vụ án để xét xử phúc thẩm đến trước thời điểm nghị án;

Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử phúc thẩm vụ việc;

Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của bị đơn sửa bản án sơ thẩm, vì các sai sót của bản án sơ thẩm cấp phúc thẩm có thể khắc phục được. Cụ thể: Tại phiên tòa, nguyên đơn đồng ý trả lại diện tích đất tranh chấp cho bị đơn và tự thu hoạch lúa và các tài sản của nguyên đơn trên diện tích đất tranh chấp; buộc bị đơn phải chịu chi phí tố tụng; tuyên lãi suất chậm trả; bổ sung sơ đồ kèm theo theo bản án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thủ tục kháng cáo: ông Đặng Thiên H làm đơn kháng cáo trong hạn luật định, hình thức và nội dung đơn kháng cáo phù hợp với quy định pháp luật, ông Đặng Thiên H là người cao tuổi, có đơn xin miễm án phí nên được chấp nhận để xem xét.

[1.2] Về sự vắng mặt của những người làm chứng: Những người này đã nhận giấy báo hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do; tại phiên tòa các đương sự và Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đề nghị không hoãn phiên tòa, nên Hội đồng xét xử tiếp tục làm việc là đúng quy định pháp luật.

[2] Xét nội dung kháng cáo của ông Đặng Thiên H:

Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị C1, ông Trần Quang C3 khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 3.230m² đất nông nghiệp bằng miệng giữa ông và ông Đặng Thiên H là có hiệu lực pháp luật; công nhận quyền sử dụng 3.230m² đất nông nghiệp cho ông đối với các thứa đất 2077, 1022, 1042, một phần trong thửa 1035 tờ bản đồ số 13 và 15 tại xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; tuyên hủy Quyết định số 522/QĐ-UB ngày 28/4/2022 của Chủ tịch UBND xã N về việc giải quyết khiếu nại đối với ông; buộc ông Đặng Thiên H và bà Nguyễn Thị Đ phải trả lại cho ông bà toàn bộ 3.230m² đất nông nghiệp nêu trên. Trường hợp hợp đồng chuyển nhượng nói trên vô hiệu thì đề nghị giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật. Bị đơn bà Nguyễn Thị Đ, ông Đặng Thiên H trình bày năm 1997, ông H chỉ cắm đất cho ông C3, không bán đất nên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xét nội dung trình bày của các bên thấy rằng:

6

Nguyên đơn ông Trần Quang C3, bà Trần Thị C1 khởi kiện cho rằng năm 1997, ông Đặng Thiên H đã bán cho nguyên đơn tổng diện tích 3230m² đất nông nghiệp tại xã N, huyện N, giao dịch chuyển nhượng được thực hiện bằng miệng, không có văn bản. Mặc dù nguyên đơn không cung cấp được văn bản chuyển nhượng nhưng tại Biên bản làm việc ngày 03/8/2022 cũng như các tài liệu do UBND xã N cung cấp đều thể hiện bà Nguyễn Thị Đ thừa nhận năm 1997, ông H đã chuyển nhượng cho ông C1 số đất nông nghiệp của gia đình với số tiền 2.700.000 đồng, sau đó bà Đ đến gặp ông C1 để xin chuộc lại. Theo lời khai của ông C1 thì chính ông H là người viết giấy nhận số tiền 2.700.000₫ do ông C1 giao. Bị đơn cho rằng quá trình làm việc tại UBND xã, bà Đ dùng từ chuyển nhượng do không hiểu biết, số tiền 2.700.000 đồng là tiền ông H vay của ông C1 và cắm đất cho ông C1 là không có cơ sở vì bà Đ là người có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi nên không thể có việc bà Đ không phân biệt được khái niệm cho vay hay chuyển nhượng. Ông C1 còn trình bày ông H là người viết giấy nhận số tiền 2.700.000₫ của ông C1, mặc dù ông H không thừa nhận nhưng cũng không yêu cầu giám định chữ ký và chữ viết tại văn bản này. Thực tế gia đình ông C1 đã sử dụng diện tích đất nêu trên từ năm 1997 - 2014 mà không có ai tranh chấp, khiếu nại gì. Do đó, cần xác định giao dịch chuyển nhượng đất nông nghiệp giữa ông H và ông C1 vào năm 1997 là có thật.

Xét tính hợp pháp của giao dịch nêu trên thấy rằng diện tích đất nông nghiệp 3.230m² là tài sản chung của vợ chồng ông H nhưng chỉ ông H đứng ra chuyển nhượng. Ông H, ông C1 đều thừa nhận giao dịch chuyển nhượng được thực hiện giữa ông H và ông C1. Sau khi bà Đ biết việc chuyển nhượng đã gặp ông C1 để yêu cầu chuộc lại đất, do ông C1 yêu cầu chờ đến khi nhà nước chia lại đất thì lấy lại, năm 2014, cơ quan có thẩm quyền giao đất cho bà Đ, ông H thì ông C1 không khiếu nại, tranh chấp gì nên bà Đ cũng không có tranh chấp. Do đó, cần xác định giao dịch chuyển nhượng giữa ông H và ông C1 là không đúng quy định pháp luật, vi phạm điều cấm của pháp luật. Giao dịch vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật nên Tòa án cấp sơ thẩm không áp dụng thời hiệu khởi kiện theo yêu cầu của bị đơn là phù hợp với quy định của BLDS.

Bản án dân sự sơ thẩm của TAND huyện Nghi Lộc xác định hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa ông C1 và ông H là vô hiệu; Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Mai Quang C và bà Nguyễn Thị C2 về việc yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bằng lời với ông Đặng Thiên H và không công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp của ông Mai Quang C và bà Nguyễn Thị C2 đối với các thửa đất số 2077, tờ bản đồ số 15; thửa 1002, 1042 và một phần thửa đất 1035 thuộc tờ bản đồ số 13 có tổng diện tích 2.900,5m² tại xóm Làng, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An là có căn cứ.

Theo nội dung khởi kiện nguyên đơn yêu cầu nếu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì phải giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu. Tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án thể hiện gia đình ông C2 đang sử dụng một phần thửa đất số 1035, diện tích 429m², theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thì trên thửa đất này có các tài sản gồm xung quanh có bờ rào thép gai, cọc bê tông, một số cây

7

xoan đâu, 01 kiốt tạm do vợ chồng nguyên đơn tạo lập. Bản án sơ thẩm quyết định buộc bị đơn phải hoàn trả lại cho ông Mai Quang C, bà Nguyễn Thị Đ số tiền 348.060.000 đồng tương ứng với 50% lỗi trong giao dịch dân sự vô hiệu nhưng không buộc nguyên đơn phải hoàn trả cho bị đơn một phần diện tích thửa đất nêu trên, cũng không giải quyết về tài sản trên đất, không có sơ đồ kèm theo bản án thể hiện kích thước các cạnh phần diện tích 429,0m² thuộc thửa đất số 1035 là thiếu sót, gây khó khăn cho công tác thi hành án. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn tự nguyện di dời tài sản trên đất để trả lại diện tích đất 429,0m² nêu trên và bị đơn cũng đồng ý nhận lại diện tích đất này nên HĐXX ghi nhận sự tự nguyện nêu trên của nguyên đơn.

Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn đã nộp tạm ứng chi phí tố tụng 10.000.000 đồng, số tiền này đã chi phí hết. Nguyên đơn đề nghị bị đơn phải chịu và hoàn trả số tiền này cho nguyên đơn. Xét thấy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải có nghĩa vụ hoàn trả số tiền này cho nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét thấy tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn đồng ý trả lại cho vợ chồng bị đơn diện tích đất còn thiếu, tự nguyện thu hoạch lúa đang trồng và các tài sản khác của mình trên đất tranh chấp; các sai sót khác của Tòa án cấp sơ thẩm như buộc nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng, tuyên lãi suất chậm trả, bổ sung sơ đồ kèm theo bản án cấp phúc thẩm có thể khắc phục được nên chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, sửa một phần bản án sơ thẩm như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị đơn được chấp nhận một phần nên bị đơn không phải chịu.

Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của ông Đặng Thiên H, sửa bản án sơ thẩm theo hướng ghi nhận sự tự nguyện của ông Mai Quang C và bà Trần Thị C1 về việc trả lại diện tích đất tranh chấp cho ông Đặng Thiên H và bà Nguyễn Thị Đ, buộc bị đơn phải có nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng, tuyên lãi suất chậm trả.

Căn cứ các Điều 26, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 131, Điều 213 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 về án phí, lệ phí Toà án, xử:

8

  1. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Mai Quang C và bà Nguyễn Thị C2 về việc yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bằng lời với ông Đặng Thiên H và không công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp của ông Mai Quang C và bà Nguyễn Thị C2 đối với các thửa đất số 2077, tờ bản đồ số 15; thửa 1002, 1042 và một phần thửa đất 1035 thuộc tờ bản đồ số 13 có tổng diện tích 2.900,5m² tại xóm Làng, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.

Tuyên bố giao dịch dân sự bằng miệng nói trên là vô hiệu. Buộc ông Đặng Thiên H, bà Nguyễn Thị Đ phải hoàn trả lại cho ông Mai Quang C, bà Trần Thị C1 số tiền 348.060.000 đồng (ba trăm bốn tám triệu không trăm sáu mươi ngàn đồng) tương ứng với 50% lỗi trong giao dịch dân sự vô hiệu.

Ghi nhận sự tự nguyện của ông Mai Quang C và bà Trần Thị C1 phải hoàn trả lại cho ông Đặng Thiên H và bà Nguyễn Thị Đ 429,0m², được ký hiệu 1035-1: 429,0m² trong tổng diện tích 6856,0m² tại thửa đất ruộng số 1035, tờ bản đồ số 15, vùng xứ Bàu nhà L1, xóm làng, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An.

Nguyên đơn ông Mai Quang C và bà Trần Thị C1 đồng ý tháo dỡ các tài sản trên thửa đất có diện tích 429,0m².

(Có sơ đồ thửa đất ban hành theo bản án).

  1. Không chấp nhận yêu cầu tuyên hủy Quyết định số 522/QĐ-UBND ngày 28/4/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An của ông Mai Quang C và bà Nguyễn Thị C2.

Kề từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, điều 7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  1. Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Đặng Thiên H không phải chịu.

Về chi phí tố tụng: ông Đặng Thiên H và bà Nguyễn Thị Đ phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ông Mai Quang C và bà Trần Thị C1 10.000.000 đồng (mười triệu).

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

9

Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND h. Nghi Lộc;
  • - VKSND t. Nghệ An;
  • - Chi cục THADS h. Nghi Lộc;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thúy Quỳnh

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/DS-PT ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 15/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger