Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BA ĐÌNH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 15/2025/HSST

Ngày: 17/02/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Ngọc Liên
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hà
  • Bà Lưu Thị Kim Hiền
  • - Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương T - Kiểm sát viên.

Ngày 17/02/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 257/HSST ngày 23 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-HS ngày 03/01/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2025/QĐHPT-ST ngày 17/01/2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Đàm Quang D, sinh năm: 1985; HKTT: TT Cục nghiên cứu Bộ T7, phường X, quận T, thành phố Hà Nội; Nơi ở: Số A ngách C T, phường B, quận T, thành phố Hà Nội; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Đàm Quang T1 và bà: Trịnh Thị N; Có vợ: Đặng Thị D1;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú ngày 02/7/2024. Hiện đang áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H; Số giam: 3757E2/7 (Có mặt).

2. Họ và tên: Phạm Ngọc T2, sinh năm: 1995; HKTT: Yên Nẫm, xã Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở : Số A ngách C T, phường B, quận T, thành phố Hà Nội; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Phạm Ngọc T3 và bà: Nguyễn Thị H; Chưa có vợ con;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 02/7/2024. Hiện đang áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H; Số giam: 3756E2/20A,B (Có mặt).

3. Họ và tên: Lê Tuấn A, sinh năm 1986; HKTT: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; Nơi ở: Số A ngách C T, phường B, quận T, thành phố Hà Nội; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Lê Văn M và bà: Nguyễn Thị V; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 02/7/2024. Hiện đang áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H; Số giam: 3759E2/ Buồng giam 4 (Có mặt).

4. Họ và tên: Nguyễn Trường S, sinh năm 1987; HKTT: Tổ 73 khu G C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; Nơi ở: Số A H, phường L, quận B, thành phố Hà Nội; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn S1 bà: Đặng Thị X; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Bản án số 36/HSST ngày 15/5/2020, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn xử 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” trị giá tài sản: 7.051.985 đồng. Xác minh thi hành án phí: nộp ngày 20/5/2020. Xác định đã xóa án.

Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 02/7/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số I, Công an thành phố H; Số giam: 3758E2/24 (Có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo Đàm Quang D: Luật sư Nguyễn Hữu H1 và Luật sư Phạm Tuấn L thuộc Công ty L1 – Đoàn luật sư thành phố H (Có mặt).

Người liên quan:

  1. Chị Nguyễn Thị Kim Q, sinh năm 1989; HKTT: Tổ 11 ấp B xã L, huyện C, tỉnh Long An; Nơi ở: Số A ngách C T, phường B, quận T, thành phố Hà Nội (Vắng mặt).
  2. Anh Đỗ Tất C, sinh năm: 1982; HKTT: Số A ngõ A C, phường N, quận T, thành phố Hà Nội; Địa chỉ: Tòa S - H Vinhomes S, phường T, quận N, thành phố Hà Nội (Vắng mặt).
  3. Anh Ma Quang T4, sinh năm 1988; HKTT: Thôn N, xã T, huyện N, tỉnh Tuyên Quang (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo Đàm Quang D, Phạm Ngọc T2, Lê Tuấn A, Nguyễn Trường S bị Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Năm 2022, Đàm Quang D đứng tên thuê nhà tại số A ngách C ngõ C T, phường B, quận T, thành phố Hà Nội để ở cùng với Nguyễn Thị Kim Q (sinh năm 1989, nơi thường trú: Tổ 11 ấp B xã L, C, tỉnh Long An), Đàm Quang D và Nguyễn Thị Kim Q ở tại phòng ngoài tầng 2; Lê Tuấn A ở tại phòng ngoài tầng 3; còn lại tầng 1, phòng trong của tầng 2, tầng 3 là phòng sinh hoạt chung và để khách ngủ lại. Đến khoảng đầu năm 2024, Đàm Quang D cho Phạm Ngọc T2 đến ở nhờ tại phòng trong tầng 2 để giúp việc nhà cho D và Q.

Đàm Quang D và Nguyễn Trường S, Lê Tuấn A, Phạm Ngọc T2 có quan hệ anh em, bạn bè xã hội, là những người thường xuyên sử dụng ma túy. Từ thời điểm đó đến nay, D, S, Tuấn A và T2 đã nhiều lần tụ tập sử dụng ma túy. Trong thời gian này, thông qua Đàm Quang D, Nguyễn Trường S đã quen biết người sử dụng tài khoản Zalo tên “Hoa Cao” là bạn xã hội của D (không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể) và biết “Hoa Cao” có bán ma túy “đá”.

Ngày 26/6/2024, S đã sử dụng tài khoản Zalo “Sơn Xẹo” của S liên hệ với người dùng tài khoản Zalo tên “H” để mua 1.000.000 đồng ma túy “đá”. S đã chuyển khoản 500.000 đồng cho “Hoa Cao”, còn nợ “Hoa Cao” 500.000 đồng. Sau đó, S bán cho khách mua sử dụng tài khoản Zalo “Do Long Phuc M1” với giá 700.000 đồng. Ngày 30/6/2024, tài khoản Zalo “Do Long Phuc M1” nhắn tin gọi vào tài khoản Zalo của S hỏi mua 700.000 đồng tiền ma túy “đá” và chuyển khoản cho S. Sau đó, S bảo D bán lại cho S 600.000 đồng tiền ma túy “đá”. D đồng ý và S chuyển khoản cho D 600.000 đồng rồi lấy một phần ma túy để ở trong phòng của T2 tại tầng 2 cho vào túi nilong rồi đưa cho “Do Long Phuc M1”. Việc tài khoản Z “Do Long Phuc M1” mua ma túy 02 lần của S đều chuyển khoản bằng tài khoản Ngân hàng T8 mang tên D2. Cả hai lần S đều giao ma túy cho tài khoản Zalo “Do Long Phuc M1” tại khu vực cây xăng Đ - B - Hà Nội.

Khoảng 13h30 ngày 01/7/2024, D, T2, S ở tại phòng trong tầng 2, D đã liên hệ với người sử dụng tài khoản Zalo tên “Hoa Cao” để mua ma túy “đá” với giá 1.000.000 đồng. Khoảng 15h45' cùng ngày, “Hoa Cao” mang ma túy đến cửa nhà số A ngách C ngõ C T rồi gọi S xuống lấy. S đi xuống cửa và được “Hoa Cao” đưa cho một bát phở cùng 01 gói giấy ăn màu trắng, “Hoa Cao” nói với S ma túy để trong gói giấy ăn. S cầm bát phở cùng gói giấy ăn lên phòng tầng 2 bảo với D và T2 là ma túy để trong gói giấy ăn, rồi cầm bát phở xuống tầng 1 ngồi ăn. Còn T2 lấy ma túy ra cho vào cóong để sử dụng cùng với D. S ăn xong cũng đi lên phòng tầng 2 tự lấy ma túy cho vào cóong sử dụng rồi lấy ra 500.000 đồng để trên sàn nhà và nói với D là góp 500.000 đồng để sử dụng ma túy. Khoảng 18h00 cùng ngày, S cùng với Đỗ Tất C (sinh năm 1982, nơi thường trú: 124 ngõ A Chính K phường N - T - Hà Nội), Ma Quang T4 (sinh

năm 1988, nơi thường trú: Thôn N, xã T - N - Tuyên Quang) và Lê Tuấn A đến đến phòng tầng 2 nhà số A ngách C ngõ C T, lúc này trong phòng có D, T2, Q và L đang ngồi nói chuyện, giữa phòng có bình cóong để sử dụng ma túy “đá”. S, C, T4 và Tuấn A cũng đi vào cùng sử dụng ma túy, sử dụng xong thì tất cả đi ngủ.

Khoảng 11h30 ngày 02/7/2024, Phạm Ngọc T2, Đàm Quang D, Nguyễn Trường S, Lê Tuấn A, Nguyễn Thị Kim Q tiếp tục cùng nhau sử dụng ma túy “đá” bằng hình thức hút ở tầng 2 nhà số A ngách C T, phường B, quận T, Hà Nội. Quá trình sử dụng ma túy, S châm ma túy cho Tuấn A và D, Q; Tuấn A châm ma túy cho S. Một lúc sau, có một người đàn ông tên L (là bạn xã hội của D và Q, không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể) đến gặp D và sử dụng ma túy “đá” cùng T2, D, S, Tuấn A, Q. Sau đó, L đã đưa cho D 1.200.000 đồng để mua ma túy “đá”. D cầm tiền của L rồi gọi điện và nhắn tin để mua ma túy “đá”. Liên hệ xong, D đưa cho T2 1.200.000 đồng và bảo Tuấn đi chuyển số tiền trên vào tài khoản số 19034384794011 Ngân hàng T8 của D. T2 cầm tiền rồi đi ra cửa tiệm giặt là trên phố T (T2 không nhớ địa chỉ) và đã nhờ một người đàn ông chuyển 1.150.000 đồng vào số tài khoản của D và trả cho anh ta 15.000 đồng phí chuyển tiền. Còn lại 35.000 đồng T2 cất vào túi quần sau bên phải T2 đang mặc rồi đi về nhà. Khi về nhà T2 bảo D là hết 15.000 đồng phí chuyển tiền, còn thừa 35.000 đồng, D bảo cho T2 số tiền trên. Khi T2 cùng mọi người đang nói chuyện tại phòng tầng 2 thì L bảo D khi nào có ma túy thì mang đến cho anh ta rồi đi về, D đồng ý.

Đến khoảng 14 giờ 00 ngày 02/7/2024, S bảo T2 chạy xuống nhà gặp một người phụ nữ tên H2 (không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) để lấy ma túy “đá”. T2 xuống cửa nhà thì được một người phụ nữ đưa cho 01 túi nilon chứa ma túy “đá”. T2 cầm túi ma túy mang lên để dưới sàn nhà trong phòng tầng 2. Một lúc sau, D bảo T2 chở đến Ngân hàng trên đường L. Đến nơi, D bảo T2 về nhà chia số ma túy “đá” vừa mua thành 2 túi, rồi mang 01 túi ma túy “đá” đến số E Đ bán cho L và cho T2 số điện thoại 0911.420.xxx, Zalo “Từ Ý” của L để T2 liên hệ, T2 đồng ý và đi về nhà. Tại phòng tầng 2, T2 đã chia số ma túy “đá” thành 02 túi nilon. Sau đó, T2 đã kết bạn với L qua Z và nhắn tin cho L hẹn mang ma túy đến số E Đ, L trả lời khi nào T2 mang ma túy đến L sẽ cho T2 100.000 đồng. Khoảng 15h20 phút cùng ngày, T2 lấy 01 túi nilon chứa ma túy “đá” cất vào trong túi áo khoác ngoài bên trái đang mặc rồi một mình đi xe máy đến số E Đ để bán ma túy cho L. Khi T2 đi đến trước cửa số nhà D Đ, phường Đ, quận B, Hà Nội thì bị Đội CSĐTTP về ma túy Công an quận B phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng.

Ngày 02/7/2024, Đàm Quang D đến Cơ quan Công an đầu thú. Tại cơ quan điều tra, lúc đầu D tự nguyện khai nhận về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” như trên và tự nguyện giao nộp vật chứng.

Quá trình điều tra, Đàm Quang D thay đổi lời khai, không mua bán ma túy, không tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Nhưng căn cứ vào tài liệu điều tra thu thập được: lời khai ban đầu của bị cáo Đàm Quang D phù hợp lời khai của các bị cáo Nguyễn Ngọc T5, Nguyễn Trường S, Lê Tuấn A, biên bản đối chất, tin nhắn điện thoại, sao kê tài khoản Ngân hàng...cũng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên việc Đàm Quang D thay đổi lời khai là không có căn cứ.

Nguyễn Trường S và Lê Tuấn A bị bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 02/7/2024.

* Vật chứng thu giữ của Phạm Ngọc T2: 01 túi ni long chứa tinh thể màu trắng; Tiền Việt Nam: 35.000 đồng (Ba mươi lăm nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu hồng, số sim 0384.173.823, số Imeil: 359158072407714; 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Dream màu nâu BKS: 31- 366 - R3, đã cũ.

* Vật chứng thu giữ của Đàm Quang D: 01 (một) bình cóong thủy tinh, dùng để sử dụng ma túy; 01 (một) túi nilong màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu vàng, số sim 1: 0964349900, số sim 2: 0916465005, số I: 350888746271570.

* Vật chứng thu giữ của Nguyễn Trường S: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, không có sim số Imeil: 8652220443082878 không có số sim.

* Vật chứng thu giữ của Lê Tuấn A: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh, đã cũ, sim 1: 0964046903, sim 2: 0904655686, imei: 860993056244655.

* Vật chứng thu giữ Đỗ Tất C: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh đã cũ, sim1: 0986555386, sim2: 0929796262, imei: 864647052495051.

* Vật chứng thu giữ Ma Quang T4: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu trắng đã cũ, sim1: 0915151291, sim2: 0903190333, imei: 861119041232840.

* Vật chứng thu giữ Nguyễn Thị Kim Q: 01 điện thoại di động nhãn hiệu 6S plus màu vàng đã cũ, sim 1: 0982414812, imei: 35329107018118.

Cơ quan CSĐT - Công an quận B khám xét khẩn cấp nơi ở của Đàm Quang D tại số A ngách C T phường B, quận T, thành phố Hà Nội không phát hiện thu giữ gì.

Tại Bản kết luận giám định số 5111/KLGĐ-PC09 ngày 12 tháng 07 năm 2024 của Phòng PC09 - C1, kết luận:

“* Tang vật thu giữ của Phạm Ngọc T2 gồm: Tinh thể màu trắng bên trong 01 (một) túi nilong màu trắng là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,345 gam;

* Tang vật thu giữ của Đàm Quang D gồm: Tinh thể màu trắng bên trong 01 (một) túi nilong màu trắng là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng 0,539 gam; 01 (một) cóong thủy tinh có dính ma túy loại Methamphetamine.

Tiến hành xét nghiệm nước tiểu đối với Đàm Quang D; Nguyễn Trường S, Phạm Ngọc T2, Lê Tuấn A, Nguyễn Thị Kim Q, Đỗ Tất C, Ma Quang T4 đều cho kết quả dương tính với ma túy loại Methamphetamine.

Tại thời điểm kiểm tra còn có các đối tượng: Nguyễn Thị Kim Q, Đỗ Tất C, Ma Quang T4. Q, C và T4 không biết việc mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của Đàm Quang D, Nguyễn Trường S, Lê Tuấn A và Phạm Ngọc T2.

Lời khai nhận của Đàm Quang D, Phạm Ngọc T2, Lê Tuấn A, Nguyễn Trường S phù hợp với lời khai của người chứng kiến, sơ đồ bắt giữ, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận B đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Thị Kim Q, Đỗ Tất C và Ma Quang T4 về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP, số tiền phạt là 1.500.000 đồng. Bàn giao Ma Văn T6 cho Công an phường L lập hồ sơ đưa đi cai nghiện bắt buộc.

Về người sử dụng tài khoản Zalo tên “Hoa Cao” là người mà D, S, T2 khai đã mua ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tách hồ sơ vụ án phần tài liệu liên quan để tiếp tục xác minh làm rõ.

Về đối tượng mua ma túy của D và đối tượng mua ma túy của S, Cơ quan điều tra đã tổ chức điều tra xác minh, nhưng không xác định được con người cụ thể nên không đề cập xử lý.

Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Jupiter, BKS: 14H1 - 3454, SM: 5B91035849, SK: RLCJ5B9107Y035849 quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn S2, sinh ngày 21/12/1957, trú tại: Số A H, phường L, quận B, thành phố Hà Nội (bố đẻ của S). Ông S2 cho S mượn xe không biết S sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận B đã trao trả chiếc xe trên cho ông S2.

Tại cáo trạng số: 01/CT-VKSBĐ ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình đã truy tố bị cáo Đàm Quang D, bị cáo Nguyễn Trường S phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS. Bị cáo Lê Tuấn A đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép

chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 BLHS. Bị cáo Phạm Ngọc T2 đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm vụ án và đưa ra những chứng cứ, lý lẽ kết luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Đàm Quang D, Nguyễn Trường S phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS. Bị cáo Lê Tuấn A đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 BLHS. Bị cáo Phạm Ngọc T2 đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội nên cần thiết áp dụng cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

Đề nghị về hình phạt:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 55; Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự 2015.

Xử phạt bị cáo Đàm Quang D mức án từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt từ 14 năm đến 15 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/7/2024.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường S mức án từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành từ 14 năm đến 15 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/7/2024.

Áp dụng khoản 1 Điều 255; Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Lê Tuấn A mức án từ 28 tháng đến 30 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 02/7/2024.

Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc T2 mức án từ 28 tháng đến 30 tháng tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 02/7/2024.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự

  • * Tịch thu tiêu hủy:
  • - 01 (một) bao niêm phong bên trong có 0,345 gam ma túy loại Methamphetamine đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và bị cáo.
  • - 01 (một) bao niêm phong bên trong có 0,539 gam ma túy loại Methamphetamine và 01 (một) cóong thủy tinh có dính ma túy loại Methamphetamine, đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và bị cáo.
  • * Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 35.000 đồng thu giữ của Phạm Ngọc T2; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu hồng đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream mang BKS: 31- 366 - R3, đã cũ; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu vàng đã qua sử dụng. Không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh đã cũ, imeil: 8652220443082878. Không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh, đã cũ, sim 1:0964046903, sim 2: 0904655686, imei: 860993056244655. Không kiểm tra chất lượng bên trong.
  • Truy thu số tiền thu lời bất chính của Đàm Quang D số tiền 200.000 đồng; Truy thu số tiền thu lời bất chính của Nguyễn Trường S số tiền 300.000 đồng.
  • Trả lại cho Đỗ Tất C 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh đã cũ, sim1: 0986555386, sim2: 0929796262, imei: 864647052495051. Không kiểm tra chất lượng bên trong; Trả lại cho Ma Quang T4 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu trắng đã cũ, sim1: 0915151291, sim2: 0903190333, imei: 861119041232840. Không kiểm tra chất lượng bên trong; Trả lại cho Nguyễn Thị Kim Q: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S plus màu vàng đã qua sử dụng, sim số: 0982414812, imei: 35329107018118. Không kiểm tra chất lượng bên trong.

Các vật chứng trên đang lưu giữ tại Chi Cục thi hành án dân sự quận Ba Đình theo biên bản giao vật chứng số 74 ngày 16/01/2025 và giấy nộp tiền số 11144104 ngày 16/01/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B.

[4] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo, người liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các căn cứ, nhận định của Hội đồng xét xử;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Đàm Quang D, bị cáo Nguyễn Trường S phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Bị cáo Lê Tuấn A phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Bị cáo Phạm Ngọc T2 phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 55; Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự 2015.

Xử phạt bị cáo Đàm Quang D 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt là 15 (Mười lăm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/7/2024.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường S 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là 15 (Mười lăm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/7/2024.

Áp dụng khoản 1 Điều 255; Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Lê Tuấn A 40 (Bốn mươi) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/7/2024.

Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc T2 40 (Bốn mươi) tháng tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/7/2024.

Áp dụng Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Xử lý vật chứng:

  • * Tịch thu tiêu hủy:
  • - 01 (một) bao niêm phong bên trong có 0,345 gam ma túy loại Methamphetamine đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và bị cáo.
  • - 01 (một) bao niêm phong bên trong có 0,539 gam ma túy loại Methamphetamine và 01 (một) cóong thủy tinh có dính ma túy loại Methamphetamine, đã qua giám định bên ngoài có chữ ký của giám định viên và bị cáo.
  • * Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 35.000 đồng (Ba mươi lăm nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu hồng đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream mang BKS: 31- 366 - R3, đã cũ; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu vàng đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh đã cũ, imeil: 8652220443082878, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh, đã cũ, sim 1:0964046903, sim 2: 0904655686, imei: 860993056244655, không kiểm tra chất lượng bên trong.
  • Truy thu số tiền thu lời bất chính của Đàm Quang D 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng); Truy thu số tiền thu lời bất chính của Nguyễn Trường S số tiền 300.000 đồng. (Ba trăm nghìn đồng).
  • Trả lại cho Đỗ Tất C 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh đã cũ, sim1: 0986555386, sim2: 0929796262, imei: 864647052495051. Không kiểm tra chất lượng bên trong; Trả lại cho Ma Quang T4 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu trắng đã cũ, sim1: 0915151291, sim2: 0903190333, imei: 861119041232840. Không kiểm tra chất lượng bên trong; Trả lại cho Nguyễn Thị Kim Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S plus màu vàng đã qua sử dụng, sim số: 0982414812, imei: 35329107018118. Không kiểm tra chất lượng bên trong.

Các vật chứng trên đang lưu giữ tại Chi Cục thi hành án dân sự quận Ba Đình theo biên bản giao vật chứng số 74 ngày 16/01/2025 và giấy nộp tiền số 11144104 ngày 16/01/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B.

Án phí HSST: Bị cáo Đàm Quang D, Nguyễn Trường S, Lê Tuấn A, Phạm Ngọc T2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án theo quy định./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình;
  • - Trại tạm giam số 1 Công an TP Hà Nội;
  • - Công an quận Ba Đình;
  • - Chi cục THA dân sự quận Ba Đình;
  • - UBND phường Xuân La, quận Tây Hồ, TP Hà Nội
  • - UBND xã Yên Mỹ, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa;
  • - UBND xã Đông Hoàng, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình;
  • - UBND phường Cửa Ông, TP Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Đinh Ngọc Liên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HSST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 15/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đàm Quang D, sinh năm: 1985; HKTT: TT Cục nghiên cứu Bộ T7, phường X, quận T, thành phố Hà Nội; Nơi ở: Số A ngách C T, phường B, quận T, thành phố Hà Nội; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Không; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Đàm Quang T1 và bà: Trịnh Thị N; Có vợ: Đặng Thị D1; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đầu thú ngày 02/7/2024. Hiện đang áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H; Số giam: 3757E2/7 (Có mặt).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger