Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÙ ĐĂNG

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HSST

Ngày: 17/02/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Thanh;
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thành Đô;
  • Bà Trần Thị Chín.
  • Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Đàm - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 06/2025/HSST ngày 15 tháng 01 năm 2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/ QĐXXST – HS ngày 15 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:

Trần Quốc T, sinh năm 1963, tại tỉnh Tiền Giang.

Căn cước công dân số: [...]; cấp ngày 27/12/2021.

Nơi cư trú: Ấp P, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.

Nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn L và bà Huỳnh Thị H; Bị cáo có vợ và 04 người con đã trưởng thành; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/9/2024, cho đến nay, (có mặt).

Bị hại: Hồ Thị D, sinh năm 1962, (có mặt).

Địa chỉ: Thôn D, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Thị Huỳnh N, sinh năm 1987, (có mặt).

Địa chỉ: Thôn T, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Người làm chứng: Ông Vũ Anh T1, sinh năm 1950, (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu mua đất nên ngày 02/9/2020, bà Hồ Thị D liên hệ gặp ông Vũ Anh T1 tại xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. Tại đây, bà D được ông T1 giới thiệu gặp Trần Quốc T để bà D hỏi mua đất. T tự nhận thửa đất số 202, Tờ bản đồ số 53, sổ đăng ký số 49 diện tích khoảng 02 ha trồng cây cao su tọa lạc tại thôn E, xã Đ, huyện B là đất thuộc quyền sử dụng của T đang cần bán. Sau khi thỏa thuận và đi kiểm tra đất thì đến ngày 06/9/2020, bà D đồng ý nhận sang nhượng của T diện tích đất trên với giá 350.000.000 đồng; sau đó, đã niều lần đưa cho T được 280.000.000 đồng. Sau khi vào canh tác thì bà D phát hiện diện tích đất trên không phải của T mà của người khác nên đã yêu cầu T trả lại tiền nhưng T đã bỏ đi khỏi địa phương nên bà D đã làm đơn tố cáo đến cơ quan Công an.

Quá trình điều tra xác định không có diện tích đất có thông tin, như sau: Thửa đất số 202, tờ bản đồ số 53, sổ đăng ký số 49 như bị cáo T tự nhận bán cho bà D thuộc khoảnh 9, tiểu khu A, xã T, huyện B; thuộc quyền quản lý, sử dụng của Công ty “Quyền Ngọc” từ năm 2010 đến nay. Công ty “Quyền Ngọc” không có ký kết, thỏa thuận gì với T về diện tích đất trên.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Trần Thị Huỳnh N (con gái bị cáo T) đã bồi thường số tiền 280.000.000 đồng cho người bị hại, người bị hại không có yêu cầu gì thêm và làm đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại Cáo trạng số 11/CT –VKS.BÐ ngày 15/01/2025, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo Trần Quốc T về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát khẳng định nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố. Về tội danh đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Quốc T phạm Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Về hình phạt, áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

  • - Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Quốc T từ 05 năm đến 05 năm, 06 tháng tù.
  • Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng

Bị cáo Trần Quốc T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 02/9/2020, Trần Quốc T đã đưa ra thông tin gian dối là mình có thửa đất số 202, tờ bản đồ số 53, sổ đăng ký số 49 tại thôn E, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước cần chuyển nhượng để bà Hồ Thị D tin tưởng thực hiện hợp đồng mua bán đất chiếm đoạt của bà D tổng số tiền 280.000.000 đồng.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm và hành vi phạm tội.

Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo Trần Quốc T đã phạm vào Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại điểm a khoản 3, Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, chỉ vì lười lao động nhưng lại muốn có tiền tiêu xài. Bị cáo đã sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác, đây là quyền về tài sản được pháp luật bảo vệ. Ngoài ra, hành vi của bị cáo còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năm hối cải, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả, bị cáo có nhiều thành tích trong quá trình lao động sản xuất được các cơ quan có thẩm quyền khen thưởng; bị cáo là người đã trên 60 tuổi, bị khuyết tật, người bị hại đã làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015.

Xét toàn bộ tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử thấy cần xử bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, do bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ; bị cáo là người khuyết tật đã cao tuổi (62 tuổi) nên đề nghị của đại diện viện kiểm sát về việc áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, thể hiện tính nhân đạo và chính sách khoan hồng của nhà nước.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 174 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy, bị cáo là người cao tuổi (62 tuổi) không còn khả năng lao động nên miễn chấp hành hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường số tiền 280.000.000 đồng cho người bị hại. Người bị hại không có yêu cầu gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Đối với ông Vũ Anh T1 là người giới thiệu bà D cho T để hai bên thực hiện hợp đồng mua bán đất. Quá trình điều tra không chứng minh được T1 có bàn bạc, giúp sức hay hưởng lợi gì từ hành vi phạm tội của T. Không có tài liệu, chứng cứ khác. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Quan điểm xử lý vụ án của đại diện Viện kiển sát tham gia phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Trần Quốc T phạm Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Quốc T 05 năm tù (năm năm tù). Thời hạn tù tính từ ngày 05/9/2024.

[2] Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trần Quốc T phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Phước;
  • - Công an tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Bù Đăng;
  • - CCTHADS huyện Bù Đăng;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS. (24 bản)

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Khắc Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HSST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự sơ thẩm (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 15/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Quốc T, K3, Đ 174, Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger