Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN G

TỈNH BẾN TRE

Bản án số: 15/2025/DS-ST

Ngày: 06/02/2025

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Võ Thế Trang Đền.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Công Luận
  2. Ông Nguyễn Xuân Nhàn

Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Lan Chi – Thư ký Toà án nhân dân huyện G, tỉnh B.

Ngày 06 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện G, tỉnh B xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 410/2024/TLST-DS ngày 21 tháng 10 năm 2024 về: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 461/2024/QĐXX-DS ngày 23 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 15/2025/QĐST-DS ngày 15/01/2025, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng Thương Mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín.

Địa chỉ trụ sở: 266-268, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Thành Phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D, Chức vụ: Tổng Giám đốc

Đại diện theo ủy quyền: Ngân hàng Thương Mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín - Chi nhánh B – PGD huyện B

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1991;

Chức vụ: Trưởng phòng - Ngân hàng Thương Mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín - Chi nhánh B – PGD huyện B.

Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Bảo Q - Chức vụ: Phó phòng giao dịch B.

Địa chỉ: 159C, khu phố 3, thị trấn B, huyện B, tỉnh B.

*Bị đơn: Bà Đoàn Thị Hồng H, sinh năm: 1995.

Địa chỉ: Ấp 11, xã H, huyện G, tỉnh B.

(Ông Q, bà H đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 07/5/2024, bản tự khai cùng các văn bản, tài liệu chứng cứ cung cấp cho Tòa án, người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của nguyên đơn là ông Nguyễn Bảo Q trình bày:

Bên vay là bà Đoàn Thị Hồng H có ký hợp đồng vay với Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín - Chi nhánh B - Phòng giao dịch B (Sacombank), cụ thể như sau:

Khoản vay theo giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 1398636 ngày 19/12/2019 của Sacombank với bà Đoàn Thị Hồng H cụ thể như sau:

Ngày 19/12/2019 bên vay là bà Đoàn Thị Hồng H có đề nghị với Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín - Chi nhánh B - Phòng giao dịch B cấp thẻ tín dụng. Qua xác minh thực tế nhu cầu sử dụng và tình hình tài chính, thu nhập của khách hàng. Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín - Chi nhánh B - Phòng giao dịch B đã đồng ý cấp thẻ tín dụng cho bà Đoàn Thị Hồng H theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 1398636 ngày 19/12/2019. Loại thẻ: JCB, hạn mức tín dụng thẻ được cấp là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), mục đích tiêu dùng, lãi suất: 31,2%/năm (lãi suất đã được điều chỉnh so với thời điểm ký hợp đồng). Thời hạn sử dụng thẻ là 03 năm và thẻ tự động gia hạn thời gian sử dụng.

Hàng tháng khách hàng phải thanh toán 5% dư nợ đầu kỳ (chốt dư nợ đầu kỳ ngày 22 tây hàng tháng), Ngân hàng sẽ cho khách hàng 25 ngày để thanh toán. Nếu khách hàng phát sinh trễ hạn sẽ bị thu phí phạt bằng 6% (tối thiểu 80.000) số tiền thanh toán tối thiểu của kỳ đó.

Nếu khách hàng không thanh toán hoặc không thanh toán đầy đủ số tiền thanh toán tối thiểu sau 02 kỳ chốt thông báo giao dịch cộng 10 ngày thẻ sẽ chuyển sang nợ nhóm 2. Từ thời điểm chuyển nhóm 2 nếu khách hàng không thanh toán đủ số tiền thanh toán tối thiếu của 2 kỳ chốt giao dịch sau thời gian 90 ngày thẻ sẽ chuyển nợ nhóm 3 và chốt toàn bộ dư nợ thành vốn gốc, lãi phát sinh sau khi chuyển nhóm 3 sẽ bằng 150% lãi trong hạn.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng JCB, bà Đoàn Thị Hồng H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 48.202.000 đồng (Bốn mươi tám triệu hai trăm lẻ hai nghìn đồng). Trong quá trình thanh toán hợp đồng từ ngày 22/01/2020 đến ngày 22/4/2020 bà Đoàn Thị Hồng H thanh toán tổng cộng 46.428.000 đồng (Bốn mươi sáu triệu bốn trăm hai mươi tám nghìn đồng).

Tuy nhiên, từ ngày 22/12/2022 bà Đoàn Thị Hồng H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán khi không thanh toán đủ số tiền tối thiểu hàng tháng là 5% để duy trì sử dụng thẻ dẫn đến thẻ bị quá hạn.

Thẻ tín dụng của bà Đoàn Thị Hồng H đang nhóm 5. Dư nợ hiện tại tính đến ngày 03/5/2024 là 50.934.898 đồng (Năm mươi triệu chín trăm ba mươi bốn nghìn tám trăm chín mươi tám đồng), trong đó: số tiền vốn là: 33.479.044 đồng (Ba mươi ba triệu bốn trăm bảy mươi chín nghìn không trăm bốn mươi bốn đồng) và tiền lãi là 17.455.854 đồng (Mười bảy triệu bốn trăm năm mươi lăm nghìn tám trăm năm mươi bốn đồng).

Do không thực hiện đúng theo cam kết hợp đồng khi không thanh toán phần vốn lãi cho Ngân hàng nên toàn bộ khoản nợ của khoản vay trên của khách hàng đã chuyển sang quá hạn.

Căn cứ vào Phụ lục các Điều khoản chung trong điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín thì bà Đoàn Thị Hồng H đã vi phạm hợp đồng khi không thanh toán thẻ tín dụng dẫn đến khoản vay thẻ tín dụng bị quá hạn nên Ngân hàng đình chỉ thẻ tín dụng nêu trên.

Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, Ngân Hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín yêu cầu: Buộc cá nhân bà Đoàn Thị Hồng H phải trả 01 (một) lần cho Ngân Hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (do Ngân Hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín - Chi nhánh B - Phòng giao dịch B nhận thay) toàn bộ số tiền nợ thẻ tín dụng nêu trên là tính đến ngày 03/5/2024 là 50.934.898 đồng (Năm mươi triệu chín trăm ba mươi bốn nghìn tám trăm chín mươi tám đồng) và Ngân hàng tiếp tục tính lãi của thẻ tín dụng trên từ ngày 04/5/2024 đến khi bà Đoàn Thị Hồng H trả tất nợ cho Ngân hàng.

Tại đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 05/02/2025 của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện G đã thông báo và tổ chức công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà H vắng mặt không lý do.

Do không thể tiến hành hòa giải được, Tòa án nhân dân huyện G đã đưa vụ án ra xét xử vào ngày 15 tháng 01 năm 2024, bà H vắng mặt.

Phiên tòa dân sự sơ thẩm được mở lại, bà H vẫn vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; Bà Đoàn Thị Hồng H, là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại khoản 1 Điều 228 và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về nội dung vụ án: Ngày 19/12/2019 Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín - Chi nhánh B - Phòng giao dịch B cấp thẻ tín dụng cho bà Đoàn Thị Hồng H theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 1398636 ngày 19/12/2019. Loại thẻ: JCB, hạn mức tín dụng thẻ được cấp là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), mục đích tiêu dùng, lãi suất: 31,2%/năm (lãi suất đã được điều chỉnh so với thời điểm ký hợp đồng). Thời hạn sử dụng thẻ là 03 năm và thẻ tự động gia hạn thời gian sử dụng.

Quá trình thực hiện hợp đồng: Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà Đoàn Thị Hồng H đã thực hiện các giao dịch thể hiện trên các chứng từ sao kê của Ngân hàng (rút tiền và nộp lãi vào tài khoản) với tổng số tiền là 48.202.000 đồng (Bốn mươi tám triệu hai trăm lẻ hai nghìn đồng). Trong quá trình thanh toán hợp đồng từ ngày 22/01/2020 đến ngày 22/4/2020 bà Đoàn Thị Hồng H thanh toán tổng cộng 46.428.000 đồng (Bốn mươi sáu triệu bốn trăm hai mươi tám nghìn đồng).

Theo chứng cứ do nguyên đơn cung cấp thể hiện trong quá trình thực hiện hợp đồng, do không thực hiện đúng theo cam kết hợp đồng khi không thanh toán phần vốn lãi cho Ngân hàng nên toàn bộ khoản nợ của khoản vay trên của khách hàng đã chuyển sang quá hạn.

Căn cứ khoản 24.1 và khoản 24.4 Điều 24 Phụ lục Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín thì bà Đoàn Thị Hồng H đã vi phạm hợp đồng khi không thanh toán thẻ tín dụng dẫn đến khoản vay thẻ tín dụng bị quá hạn nên Ngân hàng đình chỉ thẻ tín dụng nêu trên.

Phía Ngân hàng đã có thông báo về việc thanh toán thẻ tín dụng quá hạn và biên bản về việc trễ hạn, quá hạn thanh toán thẻ tín dụng. Tuy nhiên, đến nay bà H vẫn không thanh toán số tiền đã giao dịch từ thẻ tín dụng cho phía Ngân hàng. Như vậy, bà H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại các điều khoản trong hợp đồng tín dụng đã ký.

Hội đồng xét xử xét thấy đối với yêu cầu của Ngân hàng là có căn cứ. Việc bà H không thực hiện trả nợ cho Ngân hàng như hai bên thỏa thuận. Bà H đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng mặc dù nhiều lần phía Ngân hàng đã có yêu cầu đòi nợ theo quy định. Như vậy, chấp nhận yêu cầu của ngân hàng về việc buộc bà H phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng tổng vốn, lãi thẻ tín dụng hiện tại tính đến ngày 03/5/2024 là 50.934.898 đồng (Năm mươi triệu chín trăm ba mươi bốn nghìn tám trăm chín mươi tám đồng). Trong đó: tiền vốn là: 33.479.044 đồng (Ba mươi ba triệu bốn trăm bảy mươi chín nghìn không trăm bốn mươi bốn đồng) và tiền lãi là 17.455.854 đồng (Mười bảy triệu bốn trăm năm mươi lăm nghìn tám trăm năm mươi bốn đồng) và Ngân hàng tiếp tục tính lãi của thẻ tín dụng trên từ ngày 04/5/2024 đến khi bà Đoàn Thị Hồng H trả tất nợ cho Ngân hàng là phù hợp.

Đối với bà H: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhưng bà H vẫn vắng mặt không lý do. Bà H đã biết được tất cả các tài liệu, chứng cứ mà phía Ngân hàng cung cấp nhưng bà H không đến Tòa và không có trình bày thể hiện ý kiến của bà H. Như vậy, bà H đã đương nhiên từ bỏ quyền lợi trình bày và quyền cung cấp chứng cứ của mình tại tòa, Hội đồng xét xử không thể xem xét ý kiến của bà H được, vì vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp.

Về lãi suất: Ngân hàng yêu cầu bà H trả số tiền tạm tính đến ngày 03/5/2024 là 50.934.898 đồng (Năm mươi triệu chín trăm ba mươi bốn nghìn tám trăm chín mươi tám đồng). Trong đó: tiền vốn là: 33.479.044 đồng (Ba mươi ba triệu bốn trăm bảy mươi chín nghìn không trăm bốn mươi bốn đồng) và tiền lãi là 17.455.854 đồng (Mười bảy triệu bốn trăm năm mươi lăm nghìn tám trăm năm mươi bốn đồng) và tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nêu trên từ ngày 04/5/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ. Theo quy định tại Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng thì việc yêu cầu tính lãi suất phát sinh đến khi trả hết nợ gốc theo mức lãi suất quá hạn của Ngân hàng là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận về việc yêu cầu tiếp tục tính lãi suất theo quy định của nguyên đơn.

Từ những nhận định trên, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín về việc yêu cầu bà Đoàn Thị Hồng H có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 03/5/2024 là 50.934.898 đồng (Năm mươi triệu chín trăm ba mươi bốn nghìn tám trăm chín mươi tám đồng). Trong đó: tiền vốn là: 33.479.044 đồng (Ba mươi ba triệu bốn trăm bảy mươi chín nghìn không trăm bốn mươi bốn đồng) và tiền lãi là 17.455.854 đồng (Mười bảy triệu bốn trăm năm mươi lăm nghìn tám trăm năm mươi bốn đồng) và tiền lãi vay phát sinh trên dư nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng ngày 19/12/2019 cho đến khi thanh toán hết nợ.

[3] Về án phí: Buộc bà Đoàn Thị Hồng H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 50.934.898 đồng x 5% = 2.546.744 đồng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Hoàn lại số tiền tạm ứng án phí Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 351, 352, 357, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự;

Căn cứ các Điều 147, 192, 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng;

Căn cứ Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín đối với bà Đoàn Thị Hồng H về việc yêu cầu bà Đoàn Thị Hồng H phải cho Ngân Hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (do Ngân Hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín - Chi nhánh B - Phòng giao dịch B nhận thay) toàn bộ số tiền nợ thẻ tín dụng tính đến ngày 03/5/2024 với tổng số tiền là 50.934.898 đồng (Năm mươi triệu chín trăm ba mươi bốn nghìn tám trăm chín mươi tám đồng) và Ngân hàng tiếp tục tính lãi của thẻ tín dụng trên từ ngày 04/5/2024 đến khi bà Đoàn Thị Hồng H trả tất nợ cho Ngân hàng.

[2] Buộc bà Đoàn Thị Hồng H có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (do Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín - Chi nhánh B - Phòng giao dịch B nhận) tổng số tiền tạm tính đến ngày 03/5/2024 là 50.934.898 đồng (Năm mươi triệu chín trăm ba mươi bốn nghìn tám trăm chín mươi tám đồng). Trong đó: tiền vốn là: 33.479.044 đồng (Ba mươi ba triệu bốn trăm bảy mươi chín nghìn không trăm bốn mươi bốn đồng) và tiền lãi là 17.455.854 đồng (Mười bảy triệu bốn trăm năm mươi lăm nghìn tám trăm năm mươi bốn đồng).

Buộc bà Đoàn Thị Hồng H còn phải tiếp tục chịu lãi suất trên số nợ gốc theo mức lãi suất quá hạn theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng kể từ ngày 04/5/2024 cho đến khi trả tất nợ.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

Buộc bà Đoàn Thị Hồng H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 2.546.744 đồng (Hai triệu năm trăm bốn mươi sáu nghìn bảy trăm bốn mươi bốn đồng) và còn phải nộp đủ số tiền này.

- Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (do Ngân hàng Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín - Chi nhánh B - Phòng giao dịch B nhận) số tiền 1.273.000 đồng (Một triệu hai trăm bảy mươi ba nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004259 ngày 17/10/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện G, tỉnh B.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

[4] Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, các bên đương sự có quyền kháng cáo bản án này để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh B xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện G;
  • - TAND tỉnh B;
  • - Chi cục THADS huyện G;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Võ Thế Trang Đền

6

CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/DS-ST ngày 06/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 15/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger