Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/DS-PT

Ngày 14 tháng 02 năm 2025

V/v: Yêu cầu tuyên bố hợp đồng

chuyển nhượng quyền sử dụng đất

và tuyên bố việc chuyển nhượng

quyền sử dụng đất vô hiệu

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Điêu Thị Bích Lượt.

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Hán Hưởng;

Ông Nguyễn Khắc Chiên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Thu Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 137/2024/TLPT-DS ngày 25 tháng 11 năm 2024 về việc: “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tuyên bố việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 09/2024/DS-ST ngày 08,14/8/2024 của Toà án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 149/2024/QĐ-PT ngày 27/12/2024 và quyết định hoãn phiên tòa giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Cụ Nguyễn Thị T, sinh năm 1939.

Nơi cư trú: Khu C, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Tạ Gia L, sinh năm 1958

Nơi cư trú: SN A, tổ F, phố H, khu T, phường G, TP ., tỉnh Phú Thọ.

Bị đơn:

1. Vợ chồng bà Hoàng Thị N, sinh năm 1954 và ông Nguyễn Trọng T1, sinh năm 1955.

Nơi cư trú: Khu C, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Trọng T1: Anh Nguyễn Minh H, sinh năm 1984.

Nơi cư trú: Khu C, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

2. Vợ chồng bà Đỗ Thị H1, sinh năm 1961 và ông Hoàng Văn B, sinh năm 1956.

Nơi cư trú: Khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

(Ông Hoàng Văn B ủy quyền cho bà Đỗ Thị H1).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập:

Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1960 và bà Chu Thị A, sinh năm 1962

Địa chỉ: Số nhà B, tổ C, khu N, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị Tường A1, sinh năm 1972

Địa chỉ: Số E Ông Í, quận H, thành phố Đà Nẵng;

Đại diện theo ủy quyền của bà Tường A1: Bà Nguyễn Thị Minh T3;

Địa chỉ: Phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng;

2. Bà Nguyễn Thị Minh T4, sinh năm 1974

Địa chỉ: Tổ A, H, quận T, thành phố Đà Nẵng;

3. Bà Nguyễn Thị Minh T3, sinh năm 1976

Địa chỉ: Số B, Anh N, tổ A, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng;

4. Ông Nguyễn Văn T5, sinh năm 1962

Địa chỉ: Khu C, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ;

5. Bà Trần Thị Kim O, sinh năm 1965

Địa chỉ: Khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ;

6. Bà Nguyễn Thị Tố Q, sinh năm 1968

Địa chỉ: Nhà A, đường N, khu đô thị V, quận L, thành phố Hà Nội;

(Ông L, bà H1, ông B, bà N, bà T3, bàTân, ông T2, bà A có mặt; những người tham gia tố tụng khác vắng mặt)

Người kháng cáo: ông Tạ Gia L – là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bà Đỗ Thị H1 và ông Hoàng Văn B – là nguyên đơn, ông Nguyễn Văn T2 và bà Chu Thị A – là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện, Bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của cụ Nguyễn Thị T trình bày:

Cụ Nguyễn Thị T được UBND huyện P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 801460 ngày 01/4/2014 đối với thửa đất số 69, tờ bản đồ số 52, diện tích 586,5m² và đứng tên trong hồ sơ địa chính đối với thửa đất số 66. tờ bản đồ số 52, diện tích 199,9m² tại khu C, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Cả hai thửa đất này đều là đất trồng cây hàng năm khác.

Ngày 15/8/2019, bà Nguyễn Thị Minh T4 là con gái của cụ T đã tự ý chuyển nhượng 02 thửa đất này cùng cây cối trên đất cho vợ chồng ông Hoàng Văn B, bà Đỗ Thị H1 và vợ chồng ông Nguyễn Trọng T1, bà Hoàng Thị N. Số tiền chuyển nhượng hai thửa đất là 160.000.000 đồng và 3.000.000 đồng tiền cây bạch đàn trên đất. Số tiền chuyển nhượng này cụ T không được cầm và cũng không được bà T4 thông báo. Trong Hợp đồng chuyển nhượng đất đồi rừng và tài sản gắn liền với đất giữa chị Nguyễn Thị Minh T4 và các hộ ông bà Hoàng Văn B - Đỗ Thị H1, Nguyễn Trọng T1 – Hoàng Thị N không mô tả các thông tin về thửa đất, không có giấy tờ và bất cứ thông tin gì về 02 thửa đất đã bán. Hợp đồng chuyển nhượng không có công chứng, chứng thực của cơ quan có thẩm quyền. Không rõ ai ký giả chữ ký của cụ Nguyễn Thị T trong Hợp đồng.

Hiện nay, gia đình ông B, bà H1 và gia đình ông T1, bà N đã bổ ra nhiều ô, xây ngăn và có đặt 01 ngôi mộ trên thửa đất.

Nay bà T khởi kiện và đề nghị:

  • - Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đồi rừng và tài sản gắn liền với đất và tuyên bố việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15/8/2019 giữa các bên: Nguyễn Thị Minh T4 và vợ chồng ông Hoàng Văn B, bà Đỗ Thị H1; vợ chồng ông Nguyễn Trọng T1, bà Hoàng Thị N là vô hiệu.
  • - Yêu cầu các Bị đơn phải phá bỏ tường rào, di chuyển 01 ngôi mộ để trả lại nguyên trạng thửa đất.
  • - Chị Nguyễn Thị Minh T4 có nghĩa vụ trả lại tiền bán đất và cây cối trên đất cho hai gia đình trên.
  • - Trường hợp Tòa án tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu thì đề nghị Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật.

Tại Bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn bà Hoàng Thị N và đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Trọng T1 trình bày:

Giữa năm 2019, gia đình ông bà có nhu cầu muốn mua đất để làm nghĩa trang gia đình và có biết cụ Nguyễn Thị T có nhà ở gần nhà ông bà có mảnh đất đồi rừng muốn bán tại G, khu C, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Ông bà thấy gia đình bà Đỗ Thị H1 cũng có nhu cầu làm nghĩa trang nên hai gia đình thống nhất cùng nhau mua mảnh đất của cụ T. Sau đó bà trực tiếp sang gặp cụ T để hỏi mua mảnh đất trên, cụ T có nói với bà rằng mảnh đất này hai cụ đã cho chị T4 là con gái làm nhà ở, hiện nay chị T4 đã chuyển vào Đà Nẵng không ở đó, nay chị T4 muốn bán đất và cụ cũng đồng ý. Mấy ngày sau chị T4 từ Đà Nẵng ra và điện cho bà H1, bà H1 có điện cho bà để cùng nhau ra xem đất (khi ra xem đất có ba người gồm chị T4, bà H1 và bà N). Tại buổi xem đất này, chị T4 có chỉ gianh giới thửa đất (có các bờ). Do thửa đất rộng trong khi gia đình bà và gia đình bà H1 chỉ muốn mua mỗi gia đình một miếng nhỏ khoảng 100m² để làm nghĩa trang gia đình nhưng chị T4 có nói là phải mua hết thì mới bán. Hôm đó, chị T4 cho các bà xem bản di chúc của cụ H – là bố đẻ chị T4 và có nói là mảnh đất này hai cụ đã cho chị T4 để làm nhà. Cụ T và chị T4 có nói mảnh đất này hiện nay đã được cấp sổ đỏ đứng tên cụ T. Vì tin tưởng cụ T và chị T4 nên hai gia đình đã nhất trí mua thửa đất trên với giá 160.000.000 đồng. Ngày 15/8/2019 tại nhà của cụ T (trong phòng ngủ của cụ T) các bên gồm có: bà N, bà H1, chị T4, cụ T và anh T5 –con trai cụ T ngồi ở trong phòng. Sau khi nói chuyện với cụ T xong về việc chuyển nhượng, cụ T đồng ý nên bà H1 và bà N có đưa 03 bản Hợp đồng chuyển nhượng ra để mọi người cùng ký, bà H1 có đọc nội dung của Hợp đồng chuyển nhượng để các bên cùng nghe. Sau đó bà H1, bà N, chị T4, cụ T ký vào bản Hợp đồng ngay tại phòng của cụ T (Hợp đồng chuyển nhượng do bà H1 đánh sẵn trên cơ sở các bên đã thỏa thuận trước đó). Lúc này ông B chồng bà H1 và ông T1 đang ở tại nhà bà (ông B, ông T1 ký Hợp đồng tại nhà bà N). Khi cụ T ký vào Hợp đồng chuyển nhượng anh T5 có còn ở trong phòng hay không thì bà không nhớ. Sau khi các bên ký Hợp đồng chuyển nhượng thì chị T4 chở cụ T vào xin chữ ký của bà Nguyễn Thị N1 - trưởng khu 3 vào Hợp đồng chuyển nhượng (bà N1 không chứng kiến thời điểm cụ T ký vào Hợp đồng chuyển nhượng). Sau khi xin xong chữ ký của trưởng khu, tại nhà cụ T vợ chồng ông bà chuyển cho chị T4 80.000.000 đồng, vợ chồng bà H1 chuyển cho chị T4 80.000.000 đồng. Hợp đồng chuyển nhượng các ông bà không xin chứng thực của UBND xã P và cũng không công chứng tại Văn phòng Công chứng. Trong Hợp đồng chuyển nhượng cũng không thể hiện số thửa của thửa đất các ông bà nhận chuyển nhượng. Sau này khi xảy ra tranh chấp và hòa giải tại UBND xã P thì các ông bà mới biết diện tích đất nhận chuyển nhượng là 02 thửa (một thửa hơn 500m2 đã được cấp sổ đỏ đứng tên cụ T và 01 thửa gần 200m² chưa được cấp sổ đỏ nhưng cụ T là người quản lý).

Sau khi nhận chuyển nhượng gia đình ông bà và gia đình bà H1 đã thuê máy san ủi mặt bằng và cuốc bỏ các gốc cây bạch đàn đồng thời chia ra các ô nhỏ và xây tường bao trong đó gia đình ông bà sử dụng 01 ô có diện tích 150m², gia đình bà H1 sử dụng 01 ô diện tích khoảng 110m². Phần còn lại hai gia đình bán lại hai hộ khác là: Hộ ông Nguyễn Văn T2 ở V (không biết địa chỉ cụ thể) hai ô liền kề giáp với ô của vợ chồng ông bà và 01 ô phía trên khoảng 130m² (sau này ông bà được biết ô này chính là thửa đất cụ T chưa được cấp sổ đỏ); Hộ ông Nguyễn Văn H2 vợ là Trần Thị Kim O ở khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ (Ông H2 hiện đã chết) mua 01 ô còn lại giáp với ô đã bán cho ông T2. Việc gia đình bà và gia đình bà H1 bán phần diện tích còn lại cho hộ ông T2 và hộ ông bà H2 – O cũng chỉ có giấy tờ viết tay với nhau.

Trên các phần đất này gia đình ông bà, gia đình ông T2 và gia đình ông bà H2 - O vẫn để trống. Phần đất của gia đình bà H1, gia đình bà H1 đã chuyển 01 ngôi mộ của gia đình về.

Nay cụ T khởi kiện đối với vợ chồng ông bà để đề nghị tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tuyên bố việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15/8/2019 vô hiệu quan điểm của ông bà như sau: Việc mua bán là có thật, do ông bà tin tưởng thửa đất này là của cụ T đã cho chị T4 nên ông bà mới giao dịch mua bán với cụ T và chị T4. Do đó nay ông bà đề nghị được tiếp tục thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng và ông bà sẽ có trách nhiệm hoàn thiện các thủ tục chuyển nhượng theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Tòa án tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15/8/2019 vô hiệu thì đề nghị giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật.

Tại Bản tự khai, quá trình giải quyết và tại phiên tòa, vợ chồng ông Hoàng Văn B, bà Đỗ Thị H1 - Bị đơn trình bày: Giữa năm 2019 gia đình ông bà có nhu cầu muốn mua đất để làm nghĩa trang gia đình, gia đình ông bà có biết cụ Nguyễn Thị T có nhà ở gần nhà ông bà có mảnh đất đồi rừng muốn bán tại G, khu C, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Ông bà thấy gia đình bà Hoàng Thị N cũng có nhu cầu làm nghĩa trang nên hai gia đình thống nhất cùng nhau mua mảnh đất của cụ T (sau này vợ chồng bà được biết các thửa đất mà cụ T và chị T4 bán cho hai gia đình là thửa đất số 69, TBĐ số 52 đã được cấp GCNQSD đất đứng tên cụ Nguyễn Thị T và thửa đất số 66, TBĐ số 52 chưa được cấp sổ đỏ nhưng sổ mục kê đứng tên cụ T). Do bà N đã trực tiếp gặp cụ T và cụ T cũng đã đồng ý cho chị Nguyễn Thị Minh T4 – là con gái của cụ T bán. Mấy ngày sau thì chị T4 từ Đà Nẵng ra và gọi điện cho bà về việc mua bán đất. Sau đó bà, bà N và chị T4 đã ra xem đất, chị T4 có chỉ gianh giới các mảnh đất của gia đình muốn bán (bà cũng biết các mảnh đất này là của gia đình cụ T). Do thửa đất rộng trong khi gia đình bà và gia đình bà H1 chỉ muốn mua mỗi gia đình một miếng nhỏ khoảng 100m² để làm nghĩa trang gia đình nhưng chị T4 có nói là phải mua hết thì mới bán vì chị T4 đang cần tiền. Đồng thời chị T4 cho các bà xem bản di chúc của cụ H - là bố đẻ chị T4 và có nói là mảnh đất này hai cụ đã cho chị T4 để làm nhà, còn mảnh dất dưới đường gần nghĩa trang cụ T cho hai người con gái khác của cụ. Chị T4 còn nói khi từ Đà Nẵng ra ngoài này chị T4 đã nói với hai người con gái khác của cụ T có phần trong di chúc về việc chị bán thửa đất này rồi. Chị T4 cũng nói thửa đất này đã được cấp GCNQSD đất đứng tên cụ T và hiện nay sổ đỏ do chị gái hay em gái cầm chị T4 cũng không rõ nhưng khi nào hai gia đình muốn làm thủ tục chuyển nhượng, cấp sổ đỏ thì chị T4 sẽ đưa sổ đỏ. Vì tin tưởng cụ T và chị T4 nên hai gia đình đã nhất trí mua thửa đất trên với giá 160.000.000 đồng. Ngày 15/8/2019 tại nhà của cụ T các bên gồm có: bà N, bà H1, chị T4, cụ T, bà H1, chị T4, cụ T và anh T5 - con trai cụ T ngồi ở trong phòng. Sau khi nói chuyện với cụ T xong về việc chuyển nhượng, cụ T đồng ý nên bà có đưa 03 bản Hợp đồng chuyển nhượng ra để mọi người cùng ký, bà có đọc nội dung của Hợp đồng chuyển nhượng để các bên cùng nghe. Sau đó bà, bà N, chị T4, cụ T ký vào bản Hợp đồng ngay tại phòng của cụ T (Hợp đồng chuyển nhượng do bà đánh sẵn trên cơ sở các bên đã thỏa thuận trước đó). Lúc này ông B chồng bà H1 và ông T1 đang ở tại nhà Năm (ông B, ông T1 ký Hợp đồng tại nhà bà N). Khi cụ T ký vào Hợp đồng chuyển nhượng anh T5 có còn ở trong phòng hay không thì bà không nhớ. Sau khi các bên ký Hợp đồng chuyển nhượng thì chị T4 chở cụ T vào xin chữ ký của bà Nguyễn Thị N1 - trưởng khu 3 vào Hợp đồng chuyển nhượng (bà N1 không chứng kiến thời điểm cụ T ký vào Hợp đồng chuyển nhượng). Sau khi xin xong chữ ký của trưởng khu, tại nhà cụ T vợ chồng ông bà chuyển cho chị T4 80.000.000 đồng, vợ chồng bà N chuyển cho chị T4 80.000.000 đồng. Ngoài ra vợ chồng bà còn trả cho cụ T 3.000.000 đồng là tiền mua cây trên đất (số tiền này bà để trên bàn uống nước trong phòng khách của cụ T còn sau đó cụ T cầm hay chị T4 cầm bà không biết). Hợp đồng chuyển nhượng các ông bà không xin chứng thực của UBND xã P và cũng không công chứng tại Văn phòng Công chứng. Trong Hợp đồng chuyển nhượng cũng không thể hiện số thửa của thửa đất các ông bà nhận chuyển nhượng. Sau này khi xảy ra tranh chấp và hòa giải tại UBND xã P thì các ông bà mới biết diện tích đất nhận chuyển nhượng là 02 thửa (một thửa hơn 500m² đã được cấp sổ đỏ đứng tên cụ T và 01 thửa gần 200m² chưa được cấp sổ đỏ nhưng cụ T là người quản lý).

Sau khi nhận chuyển nhượng gia đình ông bà và gia đình bà N đã thuê máy san ủi mặt bằng và cuốc bỏ các gốc cây bạch đàn đồng thời chia ra các ô nhỏ và xây tường bao trong đó gia đình ông bà sử dụng 01 ô có diện tích 109m², gia đình bà H1 sử dụng 01 ô diện tích khoảng 150m². Phần còn lại hai gia đình bán lại hai hộ khác là: Hộ ông Nguyễn Văn T2 ở V (không biết địa chỉ cụ thể) hai ô liền kề giáp với ô của vợ chồng ông bà và 01 ô phía trên khoảng 130m² (sau này ông bà được biết ô này chính là thửa đất cụ T chưa được cấp sổ đỏ); Hộ ông Nguyễn Văn H2 vợ là Trần Thị Kim O ở khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ (Ông H2 hiện đã chết) mua 01 ô còn lại giáp với ô đã bán cho ông T2. Việc gia đình bà và gia đình bà H1 bán phần diện tích còn lại cho hộ ông T2 và hộ ông bà H2 - O cũng chỉ có giấy tờ viết tay với nhau.

Trên các phần đất này gia đình ông bà N, gia đình ông T2 và gia đình ông bà H2 - O vẫn để trống. Phần đất của gia đình bà, gia đình bà đã chuyển 01 ngôi mộ của gia đình về và có cây hương khang trang.

Nay cụ T khởi kiện đối với vợ chồng ông bà để đề nghị tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tuyên bố việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15/8/2019 vô hiệu quan điểm của ông bà như sau: Việc mua bán là có thật, do ông bà tin tưởng thửa đất này là của cụ T đã cho chị T4 nên ông bà mới giao dịch mua bán với cụ T và chị T4. Do đó nay ông bà đề nghị được tiếp tục thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng và ông bà sẽ có trách nhiệm hoàn thiện các thủ tục chuyển nhượng theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Tòa án tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15/8/2019 vô hiệu thì đề nghị giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật.

Tại Bản tự khai của người đại diện của bà Nguyễn Thị Tường A1 và Nguyễn Thị Minh T3 và lời trình bày của bà Nguyễn Thị Minh T3 tại phiên tòa ngày 8/8/2024: Ngày 15/8/2019, bà Nguyễn Thị Minh T4 (là con gái của cụ Nguyễn Thị T) đã tự ý cùng vợ chồng ông Hoàng Văn B, bà Đỗ Thị H1 và vợ chồng ông Nguyễn Trọng T1 lập Hợp đồng chuyển nhượng 02 thửa đất đồi rừng cùng cây cối trên đất tại G, khu C, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ (Hợp đồng không có công chứng hoặc chứng thực), hai thửa đất chuyển nhượng gồm:

Thửa thứ nhất: Thửa đất số 69, tờ bản đồ số 52, diện tích 586,5m² đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên cụ Nguyễn Thị Tuyết .

Thửa thứ hai: Thửa đất số 66, tờ bản đồ số 52, diện tích 199,9m², chưa được cấp GCNQSD đất nhưng hồ sơ địa chính đứng tên người sử dụng đất là cụ Nguyễn Thị Tuyết .

Cả hai thửa đất này đều là đất màu, nguồn gốc hai thửa đất này là tài sản chung của cụ Nguyễn Văn H3 và cụ Nguyễn Thị Tuyết . Trước khi chết cụ H3 có viết di chúc giao lại toàn bộ 02 thửa đất này cho cụ T, bà Nguyễn Thị Tường A1, bà Nguyễn Thị Minh T3 và bà Nguyễn Thị Minh T4 được hưởng. Sau đó ba chị em đều đồng thuận để cho cụ Nguyễn Thị T được đứng tên trong GCNQSD đất. Việc bà Nguyễn Thị Minh T4 tự ý bán 02 thửa đất này mà không được sự đồng ý của cụ T và bà Tường A1, bà T3 là không đúng pháp luật. Nay cụ T khởi kiện, bà Tường A1, bà T3 đều nhất trí và đề nghị Tòa án tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và việc chuyển hượng quyền sử dụng đất ngày 15/8/2019 vô hiệu. Đồng thời yêu cầu vợ chồng ông T1, vợ chồng ông B phải phá bỏ tường rào, di chuyển 01 ngôi mộ để trả lại nguyên trạng 02 thửa đất trên cho cụ Nguyễn Thị T và những người con gái của cụ T.

Quan điểm của bà T3, bà Tường A1 muốn nhận lại đất và thanh toán giá trị đất cho bị đơn. Trường hợp Tòa tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu thì đề nghị giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay, bà T3 có quan điểm về giải quyết hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng và việc chuyển nhượng vô hiệu như sau: Trường hợp Tòa án tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng và việc chuyển nhượng vô hiệu thì bà và bà Tường A1 sẽ có nghĩa vụ thanh toán thay cho mẹ bà (cụ T) toàn bộ giá trị các công trình xây dựng trên thửa đất số 69, TBĐ số 52 cho vợ chồng ông bà Hân B1, vợ chồng ông bà Năm T6, vợ chồng ông bà Tiếp A2 và bà Q theo giá trị mà Hội đồng định giá đã định giá do hiện nay cụ T đã già, không có điều kiện kinh tế.

Tại Bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay bà Nguyễn Thị Minh T4 trình bày: Ngày 15/8/2019, do thiếu hiểu biết pháp luật nên bà đã tự ý làm giấy tờ viết tay bán 02 thửa đất của mẹ bà là cụ Nguyễn Thị T cho vợ chồng ông Nguyễn Trọng T1, Hoàng Thị N và vợ chồng bà Đỗ Thị H1, ông Hoàng Văn B. Khi mua bán, các bên không qua cơ quan có thẩm quyền công chứng hay chứng thực. Sau này bà mới biết thửa đất thứ nhất là thửa 69, tờ bản đồ 52, diện tích 586,5m² đã có GCNQSDĐ đứng tên mẹ bà và thửa 66, tờ bản đồ 52, diện tích 199,9m² chưa có GCN nhưng trong hồ sơ địa chính tại xã đứng tên mẹ bà. Thửa đất số 69 do bố bà là cụ Nguyễn Văn H3 di chúc cho mẹ bà và ba chị em gái các bà được hưởng sau đó bà và các chị em gái của bà đều đồng ý để cho mẹ bà đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà đã nhận tiền của vợ chồng bà H1 80 triệu tiền đất và 3 triệu tiền cây bạch đàn trên đất; nhận của vợ chồng bà N 80 triệu tiền đất. Bà H1 và bà N chuyển cho bà tiền chuyển nhượng tại nhà của cụ T (ở bàn uống nước ngoài sân). Việc bà không phải là chủ sử dụng đất nhưng lại tự ý bán mà không có sự đồng ý của mẹ bà và các chị em của bà là việc làm không đúng. Nay cụ T khởi kiện yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15/8/2019 là vô hiệu bà nhất trí. Đồng thời bà đề nghị phá bỏ tường rào, các công trình xây dựng trên đất, di dời 01 ngôi mộ để trả lại hiện trạng đất cho mẹ bà. Bà sẽ có trách nhiệm trả lại tiền cho gia đình ông B, bà H1; ông T1, bà N và chịu hậu quả pháp lý khi tòa án tuyên hợp đồng chuyển nhượng và việc chuyển nhượng vô hiệu. Đề nghị Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng và việc chuyển nhượng vô hiệu theo quy định của pháp luật.

Tại Bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, vợ chồng ông Nguyễn Văn T2, bà Chu Thị A - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trình bày: Do có nhu cầu mua đất để làm nghĩa trang gia đình nên tháng 11/2019 vợ chồng ông bà có thỏa thuận với vợ chồng ông Nguyễn Trọng T1, bà Hoàng Thị N và vợ chồng ông Hoàng Văn B, bà Đỗ Thị H1 để nhận chuyển nhượng 03 ô đất rừng tại khu R, khu C, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Trong số 03 ô đất vợ chồng ông bà nhận chuyển nhượng sau này ông bà được biết có 02 ô liền nhau thuộc một phần của thửa số 69, tờ bản đồ số 52 đứng tên cụ Nguyễn Thị T và 01 ô thuộc thửa số 66, tờ bản đồ số 52 chưa được cấp GCNQSD đất nhưng trong hồ sơ địa chính đứng tên cụ T.

Vợ chồng ông bà được biết các ô đất này là do vợ chồng ông bà Hân B1 và vợ chồng ông bà Năm T6 nhận chuyển nhượng của cụ Nguyễn Thị T và chị Nguyễn Thị Minh T4 – là con gái cụ T vào tháng 8/2019. Diện tích đất mà vợ chồng ông bà Hân B1, vợ chồng ông bà Năm T6 nhận chuyển nhượng là toàn bộ thửa số 66 và thửa số 69, tờ bản đồ số 52. Sau khi nhận chuyển nhượng, vợ chồng ông bà Hân B1, vợ chồng ông bà Năm T6 đã chia thành các ô nhỏ với mục đích làm nghĩa trang gia đình. Do không có nhu cầu sử dụng hết nên hai hộ đã bán lại cho vợ chồng ông bà 03 ô và bán lại cho vợ chồng anh chị Oanh H4 01 ô. Theo sơ đồ khu mộ mà vợ chồng ông B1, vợ chồng ông Thuận T7 vẽ thì 02 ô của thửa đất số 69 mà vợ chồng ông bà nhận chuyển nhượng là ô số 4 và ô số 5 và 01 ô phía trên (chính là thửa số 66).

Khi vợ chồng ông bà mua bán với vợ chồng ông bà H, vợ chồng ông bà Năm T6, các bên có làm Hợp đồng chuyển nhượng đất đồi rừng nhưng Hợp đồng chỉ có chữ ký của các bên, không có công chứng hoặc chứng thực. Giá trị chuyển nhượng 03 ô đất là 95.000.000 đồng. Trong Hợp đồng chuyển nhượng ngày 15/11/2019 có ghi hai hộ trên chuyển nhượng cho gia đình ông bà An Tiếp 120m² phía trên cùng; ông bà Thủy C 97m² và gia đình ông bà Bình H5 88m² nhưng thực tế là vợ chồng ông bà đứng ra mua của vợ chồng ông bà Hân B1, vợ chồng ông bà Năm T6. Tiền chuyển nhượng vợ chồng ông bà thanh toán cho vợ chồng vợ chồng ông bà Hân B1, vợ chồng ông bà Năm T6. Ý định vợ chồng ông bà mua 03 ô đất này là để làm nghĩa trang gia đình, cho anh chị T5 Cường 01 ô và cho vợ chồng anh chị B 01 ô để làm nghĩa trang.

Sau khi nhận chuyển nhượng 03 ô đất trên trên vợ chồng ông bà đã cải tạo cụ thể: Đổ đất 02 ô phía dưới để nâng cao nền, xây tường rào 02 ô phía dưới, ô phía trên không xây dựng gì nhưng có trồng bạch đàn kín đất (trồng năm 2019). Vợ chồng ông bà thừa nhận việc mua bán 03 ô đất này nhưng hợp đồng không công chứng, chứng thực là chưa tuân thủ quy định của pháp luật.

Nay cụ Nguyễn Thị T khởi kiện vợ chồng ông T6, vợ chồng ông B1 để đòi lại thửa đất số 66 và thửa số 69 quan điểm của vợ chồng ông như sau:

  • - Vợ chồng ông bà mong muốn các bên cùng thống nhất thỏa thuận với nhau để tiếp tục thực hiện việc chuyển nhượng.
  • - Trường hợp không thỏa thuận được thì vợ chồng ông bà nhất trí trả lại 03 ô đất trên cho vợ chồng ông bà Hân B1, vợ chồng ông bà Năm T6. Đồng thời yêu cầu vợ chồng ông T6, vợ chồng ông B1 trả lại cho vợ chồng ông bà số tiền 95.000.000 đồng.
  • - Trường hợp Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa cụ Nguyễn Thị T với vợ chồng ông T6, vợ chồng ông B1 vô hiệu và trả lại các thửa đất trên cho cụ T thì vợ chồng ông bà đề nghị cụ T phải trả lại cho vợ chồng ông bà số tiền 85.000.000 đồng – là tiền mà vợ chồng ông bà đã đầu tư để đổ đất, xây tường, sơn tường (trong đó có 12.000.000 đồng là tiền đổ đất, còn lại là tiền giá trị xây dựng). Đối với số cây bạch đàn trồng trên thửa đất số 66 thì vợ chồng ông bà sẽ có trách nhiệm thu hoạch. Tại phiên tòa hôm nay, ông có quan điểm đối với số cây bạch đàn ông đồng ý để lại cho gia đình cụ T được tiếp tục chăm sóc, khai khác và không yêu cầu bồi thường giá trị số cây bạch đàn này. Nếu gia đình cụ T không đồng ý thì vợ chồng ông cũng nhất trí thu hoạch để trả lại thửa đất.

Bà Trần Thị Kim O trình bày: Do gia đình bà có nhu cầu mua đất để làm nghĩa trang gia đình vợ chồng vợ chồng ông bà biết vợ chồng ông T6, vợ chồng ông B1 có mua 02 thửa đất của cụ Nguyễn Thị T để làm nghĩa trang nhưng không sử dụng hết, có ý định bán bớt nên ngày 15/11/2019 vợ chồng ông bà có mua lại 01 ô đất đồi rừng, diện tích khoảng 180m2 từ vợ chồng ông T6, vợ chồng ông B1. Phần diện tích đất này sau này vợ chồng bà được biết thuộc một phần thửa đất số 69, tờ bản đồ số 52 đứng tên trong GCNQSD đất là cụ Nguyễn Thị Tuyết . Khi mua bán, các bên có lập Hợp đồng chuyển nhượng nhưng không có công chứng hoặc chứng thực. Hợp đồng do chồng bà là ông Nguyễn Văn H2 ký, giá trị ô đất là 60.000.000 đồng. Chồng bà là người đứng ra giao dịch mua bán và trả tiền cho bà H1, bà N. Toàn bộ số tiền mua đất là em chồng bà là bà Nguyễn Thị Tố Q gửi về cho chồng bà để trả cho vợ chồng ông T6, vợ chồng ông B1. Phần diện tích vợ chồng bà nhận chuyển nhượng là ô số 6 theo sơ đồ khu mộ mà vợ chồng ông T6, vợ chồng ông B1 vẽ. Năm 2022 chồng bà thuê thợ để xây tường bao xung quanh diện tích đất nhận chuyển nhượng. Toàn bộ số tiền xây dựng đều do bà Q bỏ ra, bà cũng không biết cụ thể là bao nhiêu.

Nay cụ Nguyễn Thị T khởi kiện đối với vợ chồng ông T6, vợ chồng ông B1 bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Tố Q trình bày: Gia đình bà có khu đất mộ gần thửa đất nhà bà Hân B1 và Thuận N2. Do khu mộ không có đường vào, nên khi biết gia đình bà H1 và bà N2 có nhu cầu bán đất nên bà đã thỏa thuận với hai gia đình để xin nhượng lại một phần diện tích với mục đích làm nghĩa trang gia đình. Sau khi thỏa thuận mua bán với hai gia đình, bà có nhờ anh trai bà là ông Nguyễn Văn H2 đứng ra ký hợp đồng chuyển nhượng đất với hai gia đình, diện tích nhận chuyển nhượng khoảng 100m² với giá 60.000.000 đồng. Toàn bộ số tiền này là của bà và bà đã chuyển khoản cho bà H1. Năm 2022, bà nhận chuyển nhượng thêm phần diện tích đất của ông L1 và ông H3 để ô đất được vuông vức như hiện nay. Sau đó bà đã xây tường xung quanh ô đất với tổng chi phí là 112.000000 đồng. Nay được biết cụ T khởi kiện, quan điểm của bà là việc bà mua đất của ông bà H, Thuận N2 là ngay tình nên đề nghị công nhận. Trường hợp tòa án tuyên bố hợp đồng huyển nhượng đất giữa cụ T, bà T4 với hai gia đình là vô hiệu, bà nhất trí trả lại nhưng yêu cầu vợ chồng bà H1, bà N2 trả lại cho bà số tiền đã nhận chuyển nhượng theo giá hiện nay. Yêu cầu người chủ sở hữu được nhận lại đất thanh toán cho bà toàn bộ giá trị đầu tư trên đất là 112.000.000 đồng. Việc mua bán đất giữa bà và gia đình bà H1, bà N2 chỉ có giấy mua bán viết tay, không có công chứng, chứng thực và chưa làm thủ tục đăng ký với cơ quan có thẩm quyền.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 09/2024/DS-ST ngày 08,14/8/2024, Tòa án nhân dân (TAND) huyện P đã quyết định:

Căn cứ vào: Điều 117, 122, 123, 129, 131, 398, 500, 501, 502, 503 Bộ luật Dân sự 2015; Khoản 3 Điều 167, khoản 1 Điều 168, khoản 2, 3 Điều 170, khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai 2013; Khoản 3 Điều 26, Điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, 157, 165, khoản 1 Điều 188, Điều 201, 202, 217, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điểm đ khoản 1 Điều 12, Khoản 2 Điều 26, điểm b khoản 3 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý vả sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Xử:

1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện cụ Nguyễn Thị Tuyết .

Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đồi rừng và tài gắn liền với đất và việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15/8/2019 giữa bên chuyển nhượng: Cụ Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị Minh T4 với bên nhận chuyển nhượng: Vợ chồng bà Đỗ Thị H1, ông Hoàng Văn B và vợ chồng bà Hoàng Thị N, ông Nguyễn Trọng T1 vô hiệu.

2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn T2 và bà Chu Thị A.

Buộc vợ chồng bà Đỗ Thị H1, ông Hoàng Văn B; vợ chồng bà Hoàng Thị N, ông Nguyễn Trọng T1 phải có nghĩa vụ hoàn trả cho vợ chồng ông Nguyễn Văn T2, bà Chu Thị A số tiền 95.000.000 đồng (Chín mươi lăm triệu đồng). Phần nghĩa vụ của mỗi gia đình là 47.500.000 đồng (Bốn mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng).

3. Về giải quyết hậu quả của Hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu và việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu:

3.1. Buộc: Vợ chồng bà Đỗ Thị H1, ông Hoàng Văn B; vợ chồng bà Hoàng Thị N, ông Nguyễn Trọng T1; vợ chồng ông Nguyễn Văn T2, bà Chu Thị A và Nguyễn Thị Tố Q phải trả lại cho cụ Nguyễn Thị Tuyết T8 đất số 69, TBĐ 52, diện tích 586,5m2 đất trồng cây hàng năm (diện tích đo thực tế 611,7m2) và thửa đất số 66, TBĐ 52, diện tích 199,9m2 đất trồng cây hàng năm (diện tích đo thực tế 222,7m2) tại khu C, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Phần diện tích đất mà các ông bà phải trả lại cụ thể như sau:

  • - Vợ chồng bà Đỗ Thị H1, ông Hoàng Văn B 01 ô tại thửa đất số 69, TBĐ 52 được đánh dấu trên Bản trích đo hiện trạng S1 (Có sơ đồ kèm theo).
  • - Vợ chồng bà Hoàng Thị N, ông Nguyễn Trọng T1 01 ô tại thửa đất số 69, TBĐ số 52 được đánh dấu trên Bản trích đo hiện trạng S2 (Có sơ đồ kèm theo).
  • - Vợ chồng ông Nguyễn Văn T2, bà Chu Thị A 02 ô tại thửa đất số 69, TBĐ 52 được đánh dấu trên Bản trích đo hiện trạng S3, S4 và toàn bộ thửa đất số 66, TBĐ 52 (Có sơ đồ kèm theo).
  • - Bà Nguyễn Thị Tố Q 01 ô tại thửa đất số 69, TBĐ 52 được đánh dấu trên Bản trích đo hiện trạng S5 (Có sơ đồ kèm theo).

3.2. Bà Nguyễn Thị Minh T4 có nghĩa vụ hoàn trả cho vợ chồng bà Đỗ Thị H1, ông Hoàng Văn B số tiền 91.615.000 đồng (Chín mươi mốt triệu sáu trăm mười lăm nghìn đồng) và hoàn trả cho vợ chồng bà Hoàng Thị N, ông Nguyễn Trọng T1 số tiền 91.615.000 đồng (Chín mươi mốt triệu sáu trăm mười lăm nghìn đồng).

3.3. Vợ chồng bà Đỗ Thị H1, ông Hoàng Văn B phải có nghĩa vụ di dời 01 ngôi mộ tại phần diện tích đất mà gia đình ông bà đang quản lý thuộc thửa đất số 69, TBĐ 52 tại khu C, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ (ô đánh số S1) trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.

3.4. Vợ chồng ông Nguyễn Văn T2 và bà Chu Thị A có nghĩa vụ thu hoạch toàn bộ số cây bạch đàn trên thửa đất số 66, TBĐ 52 tại khu C, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ để trả lại thửa đất cho cụ Nguyễn Thị T trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.

3.5. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Tường A1 và bà Nguyễn Thị Minh T3 về việc: Các bà tự nguyện bồi thường toàn bộ giá trị xây dựng trên 05 ô đất được xây theo kiểu nghĩa trang gia đình trên thửa đất số 69, TBĐ 52 và trị giá đoạn đường bê tông từ cổng vào theo giá mà Hội đồng định giá tài sản đã định giá cho:

  • - Vợ chồng bà Đỗ Thị H1, ông Hoàng Văn B: 22.579.000 đồng (Hai mươi hai triệu năm trăm bảy mươi chín nghìn đồng).
  • - Vợ chồng bà Hoàng Thị N, ông Nguyễn Trọng T1: 10.941.000 đồng (Mười triệu chín trăm bốn mươi mốt nghìn đồng).
  • - Vợ chồng ông Nguyễn Văn T2, bà Chu Thị A: 31.809.000 đồng (Ba mươi mốt triệu tám trăm linh chín nghìn đồng).
  • - Bà Nguyễn Thị Tố Q: 21.441.000 đồng (Hai mươi mốt triệu bốn trăm bốn mươi mốt nghìn đồng).

3.6. Cụ Nguyễn Thị T có nghĩa vụ bồi thường cho:

  • - Vợ chồng bà Đỗ Thị H1, ông Hoàng Văn B: 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng) gồm: 6.000.000 đồng tiền san nền và 3.000.000 đồng tiền cây bạch đàn.
  • - Vợ chồng bà Hoàng Thị N, ông Nguyễn Trọng T1: 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) tiền san nền.
  • - Vợ chồng ông Nguyễn Văn T2, bà Chu Thị A: 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng) tiền đổ đất.

Ngoài ra bản án còn tuyên các quyền, nghĩa vụ khác của đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 26/8/2024, bà Đỗ Thị H1 và ông Hoàng Văn B là bị đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết bao gồm:

  • - Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đồi rừng và tài sản gắn liền với đất ngày 15/8/2019 vô hiệu.
  • - Trường hợp Tòa án tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đồi rừng và tài sản gắn liền với đất ngày 15/8/2019 vô hiệu thì đề nghị:
    • + Cụ Nguyễn Thị T và các con của cụ T phải trả lại số tiền chuyển nhượng đã nhận và tiền lãi theo mức lãi suất cho vay của Ngân hàng;
    • + Trả tiền mua vật liệu xây dựng, tiền công xây, tiền chuyển mộ, cây hương với tổng số tiền là: 52.960.000 đồng (Năm mươi hai triệu chín trăm sáu mươi nghìn đồng);
    • + Đề nghị hỗ trợ tiền chuyển mộ là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng);
    • + Đề nghị cho thời gian để di dời mộ là 04 (Bốn) tháng từ khi Bản án có hiệu lực pháp luật.

Ngày 27/8/2024, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T2 và bà Chu Thị A kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết bao gồm:

  • - Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm buộc vợ chồng bà Đỗ Thị H1, ông Hoàng Văn B và vợ chồng bà Hoàng Thị N, ông Nguyễn Trọng T1 phải trả tiền lãi theo lãi suất cho vay của ngân hàng đối với số tiền nhận chuyển nhượng là 95.000.000 đồng (Chín mươi lăm triệu đồng).

Ngày 04/9/2024, ông Tạ Gia L - Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết bao gồm:

  • - Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không buộc cụ Nguyễn Thị T phải bồi thường tiền san nền 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) và tiền cây bạch đàn 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) cho vợ chồng bà Đỗ Thị H1, ông Hoàng Văn B;
  • - Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không buộc cụ Nguyễn Thị T phải bồi thường tiền san nền 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) cho vợ chồng bà Hoàng Thị N và ông Nguyễn Trọng T1;
  • - Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không buộc cụ Nguyễn Thị T phải bồi thường tiền công đổ đất là 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng) cho vợ chồng ông Nguyễn Văn T2 và bà Chu Thị A.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Ông L, bà H1, ông B, bà N, bà A, ông T2, chị T3, chị T4 thống nhất thỏa thuận:

1. Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đồi rừng và tài gắn liền với đất và việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15/8/2019 giữa bên chuyển nhượng: Cụ Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị Minh T4 với bên nhận chuyển nhượng: Vợ chồng bà Đỗ Thị H1, ông Hoàng Văn B và vợ chồng bà Hoàng Thị N, ông Nguyễn Trọng T1 vô hiệu.

2. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn T2 và bà Chu Thị A.

Buộc vợ chồng bà Đỗ Thị H1, ông Hoàng Văn B; vợ chồng bà Hoàng Thị N, ông Nguyễn Trọng T1 phải có nghĩa vụ hoàn trả cho vợ chồng ông Nguyễn Văn T2, bà Chu Thị A số tiền 95.000.000 đồng (Chín mươi lăm triệu đồng). Phần nghĩa vụ của mỗi gia đình là 47.500.000 đồng (Bốn mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng).

3. Về giải quyết hậu quả của Hợp đồng chuyển nhượng vô hiệu và việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu:

3.1. Buộc: Vợ chồng bà Đỗ Thị H1, ông Hoàng Văn B; vợ chồng bà Hoàng Thị N, ông Nguyễn Trọng T1; vợ chồng ông Nguyễn Văn T2, bà Chu Thị A và Nguyễn Thị Tố Q phải trả lại cho cụ Nguyễn Thị Tuyết T8 đất số 69, TBĐ 52, diện tích 586,5m² đất trồng cây hàng năm (diện tích đo thực tế 611,7m²) và thửa đất số 66, TBĐ 52, diện tích 199,9m² đất trồng cây hàng năm (diện tích đo thực tế 222,7m²) tại khu C, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Phần diện tích đất mà các ông bà phải trả lại cụ thể như sau:

  • - Vợ chồng bà Đỗ Thị H1, ông Hoàng Văn B 01 ô tại thửa đất số 69, TBĐ 52 được đánh dấu trên Bản trích đo hiện trạng S1 (Có sơ đồ kèm theo).
  • - Vợ chồng bà Hoàng Thị N, ông Nguyễn Trọng T1 01 ô tại thửa đất số 69, TBĐ số 52 được đánh dấu trên Bản trích đo hiện trạng S2 (Có sơ đồ kèm theo).
  • - Vợ chồng ông Nguyễn Văn T2, bà Chu Thị A 02 ô tại thửa đất số 69, TBĐ 52 được đánh dấu trên Bản trích đo hiện trạng S3, S4 và toàn bộ thửa đất số 66, TBĐ 52 (Có sơ đồ kèm theo).

3.2. Bà Nguyễn Thị Minh T4 có nghĩa vụ hoàn trả cho vợ chồng bà Đỗ Thị H1, ông Hoàng Văn B số tiền 91.615.000 đồng (Chín mươi mốt triệu sáu trăm mười lăm nghìn đồng) và hoàn trả cho vợ chồng bà Hoàng Thị N, ông Nguyễn Trọng T1 số tiền 91.615.000 đồng (Chín mươi mốt triệu sáu trăm mười lăm nghìn đồng) (xác nhận bà T3 đã thanh toán xong cho bà H1, ông B và bà N, ông T1).

3.3. Vợ chồng bà Đỗ Thị H1, ông Hoàng Văn B phải có nghĩa vụ di dời 01 ngôi mộ tại phần diện tích đất mà gia đình ông bà đang quản lý thuộc thửa đất số 69, TBĐ 52 tại khu C, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ (ô đánh số S1) trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.

3.4. Vợ chồng ông Nguyễn Văn T2 và bà Chu Thị A có nghĩa vụ thu hoạch toàn bộ số cây bạch đàn trên thửa đất số 66, TBĐ 52 tại khu C, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ để trả lại thửa đất cho cụ Nguyễn Thị T trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.

3.5. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Tường A1 và bà Nguyễn Thị Minh T3 về việc: Các bà tự nguyện bồi thường toàn bộ giá trị tài sản xây dựng trên 05 ô đất được xây theo kiểu nghĩa trang gia đình trên thửa đất số 69, TBĐ 52 và trị giá đoạn đường bê tông từ cổng vào theo giá mà Hội đồng định giá tài sản đã định giá cho:

  • - Vợ chồng bà Đỗ Thị H1, ông Hoàng Văn B: 22.579.000 đồng (Hai mươi hai triệu năm trăm bảy mươi chín nghìn đồng) (xác nhận bà T3 đã thanh toán xong).
  • - Vợ chồng bà Hoàng Thị N, ông Nguyễn Trọng T1: 10.941.000 đồng (Mười triệu chín trăm bốn mươi mốt nghìn đồng) (xác nhận bà T3 đã thanh toán xong).
  • - Vợ chồng ông Nguyễn Văn T2, bà Chu Thị A: 31.809.000 đồng (Ba mươi mốt triệu tám trăm linh chín nghìn đồng) (xác nhận bà T3 đã thanh toán xong).

3.6. Cụ Nguyễn Thị T có nghĩa vụ bồi thường cho:

  • - Vợ chồng bà Đỗ Thị H1, ông Hoàng Văn B: 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) đồng tiền san nền (xác nhận bà T3 đã thanh toán xong).
  • - Vợ chồng bà Hoàng Thị N, ông Nguyễn Trọng T1: 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) tiền san nền (xác nhận bà T3 đã thanh toán xong).

Về án phí phúc thẩm: Cụ Nguyễn Thị T; vợ chồng bà Đỗ Thị H1, ông Hoàng Văn B không phải chịu án phí phúc thẩm; vợ chồng ông Nguyễn Văn T2, bà Chu Thị A được miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm.

[3]. Các quyết định khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Chi cục THADS H. Phù Ninh;
  • - TAND H. Phù Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HSVA, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Điêu Thị Bích Lượt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/DS-PT ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tuyên bố việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu

  • Số bản án: 15/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tuyên bố việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cụ Nguyễn Thị T - Hoàng Thị N - Yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tuyên bố việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger