Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HS-ST

Ngày: 12-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phơ

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Như Thuỷ
  2. Bà Hồ Thị Lệ Thu

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Ngọc Đức, Thư ký Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuynh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 02 năm 2025, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 203/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2025/QĐST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Lê Trường A (Tên gọi khác: /), sinh ngày 01/9/1990 tại tỉnh Bến Tre; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp R, xã P, huyện B, tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; họ và tên cha: Lê Văn D, họ và tên mẹ: Đặng Thị P; chưa có vợ con; tiền sự: Không.

Tiền án:

  • + Bản án số 19/2019/HS-ST ngày 22/5/2019, Toà án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • + Bản án số 01/2021/HS-ST ngày 07/01/2021, Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An xử phạt phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt với bản án số 19/2019/HS-ST ngày 22/5/2019 là 02 năm tù, chấp hành án xong 05/9/2022.

Nhân thân:

  • + Ngày 26/12/2013, Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” (Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 64/QĐ-CSHS)
  • + Ngày 31/8/2018, Công an P1, quận G, Thành phố Hồ chí Minh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” (Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0011073/QĐ-XPVPHC)

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/8/2024, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Trần Văn B, sinh năm 1956; địa chỉ: Số A. đường H, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Hải Đ, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn N, xã V, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội; chỗ ở: Số D N, ấp T, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 04/8/2024, Lê Trường A đi xe buýt từ Quận A qua Quận G tìm tài sản sơ hở trộm cắp. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi bộ đến trước nhà số A đường H, phường P, Quận G, A phát hiện 01 xe máy hiệu Wave Alpha, màu xanh, biển số 52Z4–4677, của ông Trần Văn B để trước nhà không có người trông coi. A dùng kềm đa năng chuẩn bị trước, bẻ khóa lấy trộm chạy xe đến cửa hàng Q1, địa chỉ: D đường P, ấp T, xã B, huyện H cầm cố cho anh Nguyễn Hải Đ giá 5.000.000 đồng. Ngay sau đó, Nguyễn Phúc Vũ K, là cháu ngoại ông Trần Văn B lần theo định vị gắn trong xe máy biển số: 52Z4 – 4677 phát hiện trình báo Công an xã B, huyện H. Sau khi cầm xe, Lê Trường A đi ra từ cửa hàng Q1 thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H bắt giữ. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Lê Trường A khai nhận hành vi trộm cắp tài sản.

Kết luận định giá tài sản số 206/KL-HĐĐGTTHS ngày 08/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận G, kết luận: Xe máy hiệu Honda Wave biển số 52Z4–4677, đăng ký lần đầu tháng 10/2004 trị giá 5.600.000 đồng.

Vật chứng vụ án:

  • + 01 (một) xe máy hiệu Wave, màu xanh, biển số 52Z4–4677; số khung: RLHHC09033Y435842, số máy: HC09E0435059 (đã qua sử dụng).
  • + 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô biển số 52Z4-4677 tên Trần Văn B.
  • + 01 (một) điện thoại hiệu Nokia 150, màu xanh (đã qua sử dụng).
  • + 01 (một) kềm đa năng bằng kim loại, màu trắng (đã qua sử dụng).
  • + 01 (một) áo thun dài tay màu đen, trên ngực có in dòng chữ “RSEOE” màu trắng.
  • + 01 (một) túi da đeo chéo màu đen.
  • + Tiền Việt Nam đồng: 5.000.000 (Năm triệu) đồng.

Cáo trạng số 174/CT-VKSQ7 ngày 18/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 truy tố bị cáo Lê Trường A về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Trường A phạm tội “Trộm cắp tài sản” và áp dụng điểm g Khoản 2 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt: Lê Trường A từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Đề nghị xử lý vật chứng:

Xe máy 01 (một) xe máy hiệu Wave, màu xanh, biển số 52Z4–4677; số khung: RLHHC09033Y435842, số máy: HC09E0435059 và 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô biển số 52Z4-4677 tên Trần Văn B. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị hại đề nghị không xét.

01 (một) điện thoại hiệu Nokia 150, màu xanh bị cáo khai mua 150.000 (Một trăm năm mươi nghìn) đồng, sử dụng được khoảng 08 tháng đã cũ, nên bị cáo không nhận lại, điện thoại không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, nhưng không còn giá trị sử dụng, bị cáo không có yêu cầu nhận lại, đề nghị tịch thu tiêu huỷ; Tịch thu tiêu huỷ gồm: 01 (một) kềm đa năng bằng kim loại, màu trắng (đã qua sử dụng); 01 (một) áo thun dài tay màu đen, trên ngực có in dòng chữ “RSEOE” màu trắng; 01 (một) túi da đeo chéo màu đen.

Trả lại cho cho ông Nguyễn Hải Đ 5.000.000 (Năm triệu) đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì khác, tại phiên toà vắng mặt nên không xét.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tự bào chữa, không tranh luận, thể hiện sự ăn năn hối cải, đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an Q2, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và hình phạt:

[3] Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án, xét có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Lê Trường A thực hiện hành vi trộm cắp chiếm đoạt tài sản là xe máy hiệu Wave, màu xanh, biển số 52Z4-4677 của bị hại, theo Kết luận định giá tài sản số 206/KL-HĐĐGTTHS ngày 08/8/2024, xe gắn máy tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị 5.600.000 (Năm triệu sáu trăm nghìn) đồng.

[4] Bị cáo có tiền án thuộc trường hợp tái phạm chưa được xóa án tích tại Bản án số 01/2021/HS-ST ngày 07/01/2021 xử phạt 01 năm 06 thàng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt với Bản án số 19/2019/HSST ngày 22/5/2019 chấp hành hình phạt chung là 02 năm tù. Nên lần phạm tội này của bị cáo cấu thành tội trộm cắp tài sản thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm g Khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[5] Xét bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, biết rõ trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Vì động cơ, mục đích tham lam, tư lợi lười lao động. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, đã xâm hại trực tiếp đến tài sản sở hữu hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn ở địa phương, cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục cải tạo riêng và ngăn ngừa chung trong xã hội.

[6] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

[7] Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 26/12/2013 Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Ngày 31/8/2018, Công an P1, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.

[8] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[9] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[10] Xử lý vật chứng:

[11] Xe máy 01 (một) xe máy hiệu Wave, màu xanh, biển số 52Z4–4677; số khung: RLHHC09033Y435842, số máy: HC09E0435059 và 01 (một) giấy đăng ký xe máy biển số 52Z4-4677 tên Trần Văn B. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị hại nên không xét.

[12] 01 (một) điện thoại hiệu Nokia 150, màu xanh, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo, tại phiên toà bị cáo trình bày điện thoại do bị cáo mua 150.000 (Một trăm năm mươi nghìn) đồng, sử dụng được khoảng 08 tháng đã cũ, bị cáo không nhận lại. Điện thoại không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, nhưng không còn giá trị sử dụng, bị cáo không có yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu huỷ.

[13] Các phương tiện, dụng cụ bị cáo dùng để thực hiện trộm cắp tài sản nên tịch thu tiêu quỹ, gồm: 01 (một) kềm đa năng bằng kim loại, màu trắng (đã qua sử dụng); 01 (một) áo thun dài tay màu đen, trên ngực có in dòng chữ “RSEOE” màu trắng; 01 (một) túi da đeo chéo màu đen.

[14] Số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng thu giữ của bị cáo, do ông Nguyễn Hải Đ trả tiền cầm xe gắn máy Honda Wave biển số 52Z4–4677. Cơ quan cảnh sát điều tra đã điều tra, xác minh xe Honda Wave biển số 52Z4–4677 do bị cáo mang đến cầm cố cho ông Nguyễn Hải Đ giá 5.000.000 (năm triệu) đồng, bị cáo nói xe mua chưa sang tên và có kèm theo giấy đăng ký xe nên ông Đ không biết xe do trộm cắp mà có, cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý ông Đ về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là có căn cứ. Đồng thời ông Đ có yêu cầu nhận lại số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng trả tiền cầm cố xe cho bị cáo, nên trả số tiền này lại cho cho ông Đ.

[15] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại nhận lại tài sản không có yêu cầu gì khác, tại phiên tòa vắng mặt nên không xét.

[16] Đối với hành vi nhận cầm cố xe không chính chủ của cơ sở cầm đồ Quang V. Cơ quan cảnh sát điều tra đã lập hồ sơ đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đối với chủ cơ sở cầm đồ Q3 là có căn cứ.

[17] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Trường A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Áp dụng điểm g Khoản 2 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt: Bị cáo Lê Trường A 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 08/8/2024.

2. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình năm 2017 sửa đổi, bổ sung năm 2021:

Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) điện thoại hiệu Nokia 150, màu xanh, không còn giá trị sử dụng sử dụng; 01 (một) kềm đa năng bằng kim loại, màu trắng (đã qua sử dụng); 01 (một) áo thun dài tay màu đen, trên ngực có in dòng chữ “RSEOE” màu trắng; 01 (một) túi da đeo chéo màu đen.

Trả cho ông Nguyễn Hải Đ 5.000.000 (Năm triệu) đồng (Lệnh thanh toán ngày 15/11/2024 – BL186).

(Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 51 ngày 11/2/2025).

3. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

5. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • TAND TPHCM; (1)
  • VKSND TPHCM; (1)
  • VKSND Quận 7; (1)
  • Công an Quận 7; (1)
  • Chi cục THADS Quận 7; (1)
  • Sở Tư pháp TPHCM (1)
  • Bị cáo (2)
  • Người tham gia tố tụng khác; (5)
  • THAHS (8)
  • Lưu án, VP, Hs... (TK Đức) (5)
  • (26)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Lê Thị Phơ

TAND QUẬN 7

120225.TL.QDBA.15

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HS-ST ngày 12/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 15/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Le Truong A
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger