|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 15/2025/DS-ST Ngày 07-02-2025 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Liễng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Tô Văn Nhung;
- Bà Nguyễn Thị Thu Vân.
Thư ký phiên tòa: Bà Chu Tường Vy, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 757/2024/TLST-DS ngày 30 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 510/2024/QĐXXST-DS ngày 18/12/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2025/QĐST-DS ngày 09/01/2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 1978; địa chỉ: Số C (số C), đường L, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc T1, sinh năm 1967; thường trú: Số B Quốc lộ A, Tổ dân phố B, Khu phố C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh và bà Hồ Thị Kiều O, sinh năm 1972; thường trú: Số A khu phố B, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; cùng tạm trú: Số E, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 09/10/2024, lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích T trình bày:
Do có mối quan hệ quen biết nên ngày 07/8/2023, bà Nguyễn Thị Bích T có cho vợ chồng bà Hồ Thị Kiều O và ông Nguyễn Quốc T1 vay số tiền 860.000.000 đồng, thời hạn vay là 06 tháng, tính từ ngày 07/8/2023, việc vay tiền không có lãi suất. Trong Giấy nhận nợ ngày 07 tháng 08 năm 2023 ông Nguyễn Quốc T1 ký cam kết “Tôi sẽ hoàn trả đủ số tiền nêu trên cho bà T Nếu có gì sai trái tôi hoàn toàn chị trách nhiệm trước pháp luật”. Tuy nhiên, sau 06 tháng nhưng bà O, ông T1 không thực hiện đúng như đã thỏa thuận, mặc dù bà T nhiều lần liên hệ vợ chồng bà O, ông T1 trả lại cho bà T số tiền trên. Nay bà T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Hồ Thị Kiều O và ông Nguyễn Quốc T1 có nghĩa vụ trả cho bà T số tiền đã vay 860.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính kể từ ngày 07/02/2024 cho đến ngày xét xử sơ thẩm (07/02/2025) là 12 tháng với mức lãi suất 10%/năm: 860.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 12 tháng = 86.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền bà Hồ Thị Kiều O và ông Nguyễn Quốc T1 phải trả cho bà T là 946.000.000 (chín trăm bốn mươi sáu triệu) đồng.
- Bị đơn bà Hồ Thị Kiều O và ông Nguyễn Quốc T1 vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, không cung cấp tài liệu chứng cứ, cũng như không cung cấp ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã đảm bảo tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn bà Hồ Thị Kiều O và ông Nguyễn Quốc T1 đã được tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa, căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định.
Về nội dung: Căn cứ vào chứng cứ mà các đương sự đã giao nộp, các chứng cứ Tòa án đã thu thập được trong hồ sơ vụ án, ý kiến của các đương sự và kết quả diễn biến tại phiên tòa. Xét thấy việc khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An nhận định:
[1] Về tố tụng: Quá trình tố tụng tòa án đã triệu tập bà O tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 03/12/2024; tham gia phiên tòa vào các ngày 09/01/2025 và 07/02/2025 nhưng bà O, ông T1 vắng mặt. Bà T có yêu cầu giải quyết vắng mặt, căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng Dân sự tòa án xét xử vắng mặt bà O, ông T1 và bà T.
[2] Về nội dung: Quá trình tố tụng, bị đơn được Tòa án triệu tập bằng hình thức niêm yết nhưng bị đơn không đến Tòa án làm việc, cũng như không cung cấp các tài liệu, chứng cứ, ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Việc xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn dựa trên các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và do Tòa án thu thập.
Căn cứ Giấy nhận nợ ngày 07 tháng 8 năm 2023 do nguyên đơn cung cấp có căn cứ xác định giữa nguyên đơn và bị đơn có xác lập giao dich vay tiền, loại hợp đồng vay có thời hạn quy định tại Điều 470 Bộ luật Dân sự. Nguyên đơn xác định sau khi hết thời hạn vay thì bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn. Nay nguyên đơn căn cứ vào giấy nhận nợ trên để yêu cầu bị đơn trả nợ. Xét quá trình tố tụng, bị đơn không có ý kiến phản bác gì đối với yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, căn cứ vào Điều 466 Bộ luật Dân sự, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn bà Hồ Thị Kiều O và ông Nguyễn Quốc T1 trả khoản nợ gốc là 860.000.000 đồng.
[3] Xét yêu cầu tính lãi 10%/năm, thành tiền là 860.000.000 đồng x 10%/năm x tháng là 86.000.000 đồng của nguyên đơn thấy rằng: Theo Giấy nhận nợ ngày 07/8/2023 và lời khai trong quá trình tố tụng của nguyên đơn xác định đây là hợp đồng vay tài sản không có lãi suất. Tuy nhiên, tiền lãi do nguyên đơn yêu cầu là tiền lãi trên nợ gốc quá hạn, do bị đơn vi phạm thời gian trả nợ gốc nên nguyên đơn yêu cầu tính lãi quá hạn trên nợ gốc là có căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự và khoản 1 Điều 5 Nghị định 01/2029/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019.
[4] Từ những phân tích trên, có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc là 860.000.000 đồng, nợ lãi là 86.000.000 đồng, tổng số tiền là 946.000.000 (chín trăm bốn mươi sáu triệu) đồng.
[5] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An là phù hợp nên chấp nhận.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 14 Điều 26, Điều 147, Điều 228, Điều 241, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 463, 466, 468, 469, 471 Bộ luật Dân sự 2015;
Căn cứ vào Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích T đối với bị đơn bà Hồ Thị Kiều O và ông Nguyễn Quốc T1 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
- Buộc bà Hồ Thị Kiều O và ông Nguyễn Quốc T1 có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Bích T số tiền 946.000.000 (chín trăm bốn mươi sáu triệu) đồng, trong đó:
- + Nợ gốc là 860.000.000 (tám trăm sáu mươi triệu) đồng;
- + Nợ lãi là 86.000.000 (tám mươi sáu triệu) đồng.
Kể từ ngày 08/02/2025 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn bà Hồ Thị Kiều O và ông Nguyễn Quốc T1 phải chịu số tiền án phí 40.380.000 (bốn mươi triệu ba trăm tám mươi nghìn) đồng. Trả lại cho bà Nguyễn Thị Bích T 19.649.490 (mười chín triệu sáu trăm bốn mươi chín nghìn bốn trăm chín mươi) đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001787 ngày 23/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
3. Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
4. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Liễng |
Bản án số 15/2025/DS-ST ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 15/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà Nguyễn Thị Bích T tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bà Hồ Thị Kiều O
