TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 15/2025/DS-ST Ngày: 07-02-2025 V/v Tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Thắm;
- Bà Nguyễn Kim Lý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 582/2024/TLST-DS ngày 14/10/2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-DS ngày 08/01/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/QĐST-DS ngày 22/01/2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà La Thị Kim C, sinh năm 1997; địa chỉ thường trú: Thôn I, xã K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; địa chỉ liên hệ: Số A, hẻm A đường Đ, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- - Bị đơn: Ông Đặng Văn Q, sinh năm 1985; địa chỉ thường trú: Xóm A (nay là B), xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; địa chỉ tạm trú: Khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
- - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Võ Đình T, sinh năm 1982; địa chỉ thường trú: Số C T, xã T, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
- - Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1996; địa chỉ: Đường N khu dân cư T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện ngày 26/01/2024 và lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà La Thị Kim C trình bày:
Bà C và ông Q có quan hệ quen biết (anh rễ bà C tức người làm chứng ông Nguyễn Văn C1, là cháu ruột của ông Q). Do có nhu cầu nhận chuyển nhượng đất nên ông C1 có giới thiệu cho bà C biết ông Q có phần đất cần chuyển nhượng. Ngày 11/12/2023, ông Q và bà C ký hợp đồng đặt cọc để nhận chuyển nhượng đối với thửa đất số 4522, tờ bản đồ số 07, toạ lạc khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 361456 do Uỷ ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Bến Cát cấp cho ông Vũ Minh H ngày 07/10/2013, đã đăng ký biến động chuyển nhượng cho ông Võ Đình T, sinh năm 1982; số CCCD: [...]; địa chỉ thường trú: Số C T, xã T, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh ngày 17/8/2023. Giá chuyển nhượng 1.630.000.000 đồng; Phương thức thanh toán: Ngay khi ký hợp đồng, đặt cọc số tiền 430.000.000 đồng; Lần 02: Sau 45 ngày kể từ ngày 11/12/2023 đến 0 giờ ngày 25/01/2024 phải thanh toán số tiền 1.200.000.000 đồng (400.000.000 đồng tiền mặt và 800.000.000 đồng vay ngân hàng).
Ngoài ra, ông Q cam kết đất không tranh chấp, không kê biên phát mãi, hỗ trợ vay 03 bên. Ông Q còn thỏa thuận khác với bà C: “Nếu hồ sơ không vay được Ngân hàng sẽ hoàn cọc vào ngày 19/12/2023, 25”, tức thời gian hoàn lại cọc là từ 19/12 đến 25/01/2024.
Trường hợp “quá thời hạn thỏa thuận trên nếu bên A (ông Q) không bán, chuyển nhượng tài sản đặt cọc trên cho bên B (bà C), thì bên A phải bồi thường cho bên B gấp 02 lần số tiền mà bên B đã đặt cọc cho bên A. Tổng số tiền hoàn trả và bồi thường là 800.000.000 đồng. Ngược lại nếu bên B không tiến hành mua thì phải chịu mất số tiền đã đặt cọc trên”.
Quá trình thực hiện hợp đồng, tại hợp đồng hợp đồng đặt cọc và Giấy biên nhận đặt cọc ghi số tiền đặt cọc là 430.000.000 đồng. Tuy nhiên, ngay ngày ký hợp đồng đặt cọc, thực tế bà C và ông Q thỏa thuận chỉ đặt cọc số tiền 300.000.000 đồng. Lý do ghi số tiền đặt cọc cao hơn số tiền đặt cọc thực tế là do ông Q yêu cầu. Bà C có xuống xem hiện trạng đất, ông Q có đưa cho bà C xem hình ảnh chụp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì tin tưởng nên bà C không yêu cầu xuất trình giấy tờ gì khác để chứng minh ông Q được toàn quyền định đoạt đặt cọc chuyển nhượng đối với quyền sử dụng đất nêu trên. Việc ông Q đứng ra ký kết hợp đồng đặt cọc với bà C, ông T có biết và đồng ý hay không thì bà C không rõ.
Hai bên thỏa thuận ngày 25/01/2024 ra Văn phòng công chứng để ký hợp đồng chuyển nhượng nhưng không nói rõ là ra văn phòng công chứng nào. Ngày 24/01/2024, ông Q nhắn với bà C là ông T đã thế chấp quyền sử dụng đất nêu trên cho ngân hàng nên không đồng ý bán nữa. Do đó, bà C yêu cầu ông Q trả lại tiền cọc thì ông Q nhắn cho thời hạn 01 tháng sẽ trả lại tiền cọc nhưng bà C không đồng ý. Sau đó, bà C nhiều lần liên hệ ông Q nhưng không được.
Tại đơn khởi kiện, nguyên đơn bà La Thị Kim C yêu cầu Toà án buộc ông Đặng Văn Q trả lại số tiền đã nhận cọc 430.000.000 đồng và bồi thường số tiền 430.000.000 đồng.
Tuy nhiên, quá trình tham gia tố tụng, bà C xin rút lại 01 phần yêu cầu khởi kiện. Cụ thể: Bà C xin rút yêu cầu trả lại tiền cọc đối với 130.000.000 đồng và bồi thường phạt cọc 430.000.000 đồng. Nay bà C chỉ yêu cầu ông Q trả lại số tiền đặt cọc là 300.000.000 đồng và bổ sung yêu cầu tuyên bố Hợp đồng đặt cọc ngày 11/12/2023 vô hiệu. Đối với chi phí sao lục hồ sơ, xem xét thẩm định tại chỗ, thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và chi phí giám định, bà C tự nguyện chịu toàn bộ chi phí này. Ngoài ra, không có yêu cầu gì khác.
Bị đơn ông Đặng Văn Q trình bày: Bị đơn ông Q không có mặt ở địa phương, đi đâu không rõ. Để bảo đảm quyền lợi, nghĩa vụ của các đương sự và giải quyết vụ án đúng pháp luật, căn cứ Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương thông báo ông Q được biết và tiến hành liên hệ cơ quan đăng tin, thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, cụ thể: B trong 03 số 06, 07, 08 ra các ngày 06, 07, 08/12/2024; Cơ quan thường trú Đài Tiếng nói Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh trong 03 ngày 12, 13, 14/12/2024 và Cổng thông tin điện tử của Toà án về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; thời gian trình bày ý kiến, cung cấp chứng cứ và tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thời gian tham gia phiên toà lần thứ nhất và phiên toà lần thứ 2 (trong trường hợp ông Q vắng mặt phiên toà lần thứ nhất). Tuy nhiên, ông Q không có mặt, vắng mặt không có lý do. Ông Q không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào cho Tòa án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Đình T: Ông T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo bổ sung người tham gia tố tụng; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, thông báo thời gian mở phiên tòa và giấy triệu tập hợp lệ. Tuy nhiên, ông T không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, vắng mặt không có lý do. Ông T không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào cho Tòa án.
Người làm chứng ông Nguyễn Văn C1 trình bày: Ngày 11/12/2023, giữa ông Q và bà C có ký kết Hợp đồng đặt cọc để nhận chuyển nhượng phần đất thuộc thửa đất 4522, tờ bản đồ số 7, tọa lạc phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương do ông Võ Đình T đứng tên chủ sử dụng đất. Giá chuyển nhượng 1.630.000.000 đồng. Ngay ngày ký hợp đồng, bà C đã chuyển khoản cho ông Q số tiền cọc 300.000.000 đồng. Tuy nhiên, trên hợp đồng đặt cọc ghi nhận số tiền cọc 430.000.000 đồng, mục đích để giúp hồ sơ vay ngân hàng được dễ dàng hơn. Ông C1 chỉ làm chứng việc các bên ký hợp đồng đặt cọc và ông Q có nhận tiền cọc của bà C 300.000.000 đồng. Còn sau đó các bên có phát sinh tranh chấp gì, ông C1 không biết. Ông C1 không có tài liệu, chứng cứ cung cấp cho Toà án và đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt ông C1 trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Lý do: Bận công việc không thể tham gia tố tụng tại Toà án. Ngoài ra, ông C1 không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tham gia phiên toà:
- - Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa; việc chấp hành pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng là nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt vi phạm quy định tại các Điều 70, 72, 73 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tuyên bố Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 11/12/2023 được ký giữa bà La Thị Kim C và ông Đặng Văn Q là vô hiệu; buộc ông Đặng Văn Q trả lại cho bà La Thị Kim C số tiền đặt cọc 300.000.000 đồng. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu trả lại tiền cọc 130.000.000 đồng và bồi thường phạt cọc 430.000.000 đồng.
Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn tranh chấp giao dịch dân sự về hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 4522, tờ bản đồ số 07, toạ lạc khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương và bị đơn ông Đặng Văn Q có đăng ký tạm trú tại khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án xét xử xác định quan hệ tranh chấp của các bên là “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
[1.2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:
Nguyên đơn bà C có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; đối với bị đơn ông Q và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông T, Toà án đã triệu tập để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người nêu trên theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1 khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Người làm chứng ông C1 có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Xét thấy, người làm chứng ông C1 đã có lời khai đầy đủ trong quá trình tham gia tố tụng, việc vắng mặt của ông C1 không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, căn cứ Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông C1.
[1.3] Về phạm vi khởi kiện: Tại đơn khởi kiện, nguyên đơn không yêu cầu xử lý giao dịch đặt cọc mà chỉ yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng. Quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn có đơn bổ sung yêu cầu tuyên bố hợp đồng đặt cọc vô hiệu. Xét nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại số tiền đã nhận và bồi thường phạt cọc từ giao dịch đặt cọc giữa hai bên, vậy để giải quyết triệt để các vấn đề phát sinh trong vụ án thì cần phải xem xét tính pháp lý của giao dịch đặt cọc này nên không thuộc trường hợp vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện.
[1.4] Về chứng cứ: Toà án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đã được Tòa án thông báo đến các đương sự nhưng không ai có ý kiến khiếu nại hay thắc mắc. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn giao nộp và tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung tranh chấp:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ thể hiện:
[2.1] Xét thấy, bà Cúc cung C2 chứng cứ là bản chính Hợp đồng đặt cọc ngày 11/12/2023 và Giấy biên nhận đặt cọc ngày 11/12/2023. Để chứng minh Hợp đồng đặt cọc ngày 11/12/2023 và Giấy biên nhận đặt cọc ngày 11/12/2023 này là thật. Toà án đã tiến hành việc trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết và dấu vân tay ghi họ tên “Đặng Văn Q” tại mục đại diện bên A (Bên bán) của Hợp đồng đặt cọc ngày 11/12/2023 có phải là chữ ký, chữ viết và dấu vân tay của ông Đặng Văn Q không. Tại Kết luận giám định số 5786/KL-KTHS ngày 22/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Chữ ký, chữ viết họ tên và 02 dấu vân tay mang tên “Đặng Văn Q” dưới mục “Đại diện bên A” trên 01 “Hợp đồng đặt cọc” đề ngày 11/12/2023 (ký hiệu A) so với chữ ký, chữ viết họ tên và dấu vân tay đứng tên Đặng Văn Q trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M1 đến M5) do cùng một người ký, viết và in ra tức đúng là chữ ký, chữ viết và dấu vân tay của ông Đặng Văn Q. Như vậy, có cơ sở kết luận chứng cứ bà Cúc cung C2 có giá trị chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp.
[2.2] Xét tính hợp pháp của Hợp đồng đặt cọc ngày 11/12/2023.
Theo quy định tại Điều 328, khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của nguyên đơn. Đối tượng của giao dịch trong Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 11/12/2023 là phần đất có diện tích 100 m² thuộc thửa đất số 4522, tờ bản đồ số 07, toạ lạc khu phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 361456 do Uỷ ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Bến Cát cấp cho ông Vũ Minh H ngày 07/10/2013, đã đăng ký biến động chuyển nhượng cho ông Võ Đình T, sinh năm 1982; số CCCD: [...]; địa chỉ thường trú: Số C T, xã T, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh ngày 17/8/2023. Giao dịch đặt cọc giữa bà C và ông Q để đảm bảo việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên. Nguyên đơn xác nhận khi hai bên tiến hành đặt cọc và nhận tiền cọc, ông Q không có cung cấp giấy uỷ quyền định đoạt đối với thửa đất 4522 của ông T. Theo quy định tại Điều 194 Bộ luật Dân sự thì chủ sở hữu mới có quyền định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình như bán, trao đổi, tặng cho...Tại Điều 195 Bộ luật Dân sự quy định: “Người không phải là chủ sở hữu tài sản chỉ có quyền định đoạt tài sản theo uỷ quyền của chủ sở hữu...”.
Tại hồ sơ gốc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 4522 do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố cung cấp thì có Giấy ủy quyền ngày 01/6/2023 giữa ông Võ Đình T và ông Đặng Văn Q được công chứng tại Văn phòng công chứng tỉnh B số công chứng 002967, quyển số 06/2023/TP/CC-SCC/HĐGD. Tuy nhiên, nội dung Giấy ủy quyền: “Liên hệ với các cơ quan chức năng có thẩm quyền để làm thủ tục hành chính liên quan đến việc đăng ký quyền sử dụng đất,..., nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và thực hiện các nghĩa vụ tài chính (nếu có) đối với thửa đất nêu trên”, không có ủy quyền quyền định đoạt tài sản đối với thửa đất 4522. Phần đất nêu trên không thuộc sở hữu của ông Q và tại thời điểm các bên ký kết hợp đồng đặt cọc để đảm bảo cho việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ông Q cũng không có bất kỳ giấy uỷ quyền nào chứng minh rằng mình được quyền nhận cọc và được phép chuyển quyền sở hữu đối với phần diện tích đất này. Do đó, ông Q không có quyền nhận cọc cũng như không có quyền chuyển nhượng diện tích đất này. Vì vậy, giao dịch đặt cọc giữa bà C và ông Q không đáp ứng điều kiện về chủ thể theo quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự. Hợp đồng đặt cọc giữa bà C và ông Q không đáp ứng đủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự và vi phạm điều cấm của pháp luật về chủ thể nên vô hiệu.
[2.3] Về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu:
Xét về yếu tố lỗi dẫn đến hợp đồng đặt cọc vô hiệu thì thấy tại thời điểm ký kết hợp đồng đặt cọc với bà C, ông Q không thông báo cho ông T biết trong khi ông T là chủ sở hữu quyền sử dụng đất nêu trên mà đã tự ý ký kết hợp đồng đặt cọc và nhận tiền cọc, chưa có văn bản uỷ quyền của ông T. Bản thân bà C cũng là người có lỗi khi nhận chuyển nhượng đất không tìm hiểu kỹ, không xác định rõ nguồn gốc đất, ai là chủ sở hữu của thửa đất 4522 và các giấy tờ pháp lý liên quan để thực hiện việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Do đó, các bên đều có lỗi như nhau. Tuy nhiên, các bên không yêu cầu bồi thường thiệt hại của hợp đồng vô hiệu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Căn cứ Điều 131 Bộ luật Dân sự: Giao dịch dân sự vô hiệu thì không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập, các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Hợp đồng đặt cọc ngày 11/12/2023 và Giấy biên nhận đặt cọc ngày 11/12/2023 đều thể hiện bà C đặt cọc cho ông Q với số tiền 430.000.000 đồng. Tuy nhiên quá trình tham gia tố tụng, bà C xác nhận chỉ giao cho ông Q số tiền đặt cọc là 300.000.000 đồng. Theo nguyên đơn và người làm chứng trình bày thì mục đích ghi giao nhận số tiền cọc lớn hơn thực tế để nhằm mục đích làm thủ tục vay ngân hàng được dễ dàng hơn. Để chứng minh việc ông Q có nhận số tiền cọc 300.000.000 đồng, nguyên đơn có nộp bảng sao kê giao dịch chuyển khoản ngân hàng vào ngày 11/12/2023 nội dung: “La Thi Kim Cuc coc thua 4522 to 7 bao tranh chap bao vay 3 ben 800tr k vay duoc hoan tien 19 12 2023” đến số tài khoản 0841000023342 của khách hàng Đặng Văn Q tại Ngân hàng TMCP N-Chi nhánh B1. Do đó, có đủ cơ sở xác định ông Q đã nhận số tiền đặt cọc đối với thửa đất 4522 là 300.000.000 đồng. Sau khi ông Q nhận tiền cọc cũng không cung cấp chứng cứ thể hiện việc giao tiền đặt cọc và thông báo cho ông T biết về việc giữa bà C và ông Q ký kết hợp đồng đặt cọc đối với thửa đất 4522 nên buộc ông Q có nghĩa vụ trả lại bà C số tiền đã nhận là 300.000.000 đồng.
Từ những phân tích và nhận định nêu trên, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên chấp nhận.
[3] Đối với yêu cầu ông Q trả lại tiền cọc 130.000.000 đồng và bồi thường phạt cọc 430.000.000 đồng. Quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà C có đơn xin rút lại, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét đây là sự nguyện của nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này theo quy định khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tham gia phiên toà là có căn cứ và phù hợp các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử thống nhất.
[5] Về chi phí sao lục hồ sơ, xem xét thẩm định tại chỗ, thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và chi phí giám định: Bà La Thị Kim C tự nguyện chịu toàn bộ và đã nộp xong.
[6] Về án phí án phí dân sự sơ thẩm: Ông Đặng Văn Q phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 117, 118, 119, 131, 194, 195, 328 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 147, 227, 228, 229, 235, 238, 244, 266, 271, 273 và 483 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 6, 26 và 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà La Thị Kim C đối với bị đơn ông Đặng Văn Q về việc: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Tuyên bố Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 11/12/2023 được ký giữa bà La Thị Kim C và ông Đặng Văn Q là vô hiệu.
Buộc ông Đặng Văn Q trả lại cho bà La Thị Kim C số tiền đặt cọc 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của nguyên đơn bà La Thị Kim C cho đến khi thi hành án xong, nếu bị đơn ông Đặng Văn Q chậm thi hành thì hàng tháng bị đơn ông Đặng Văn Q còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu trả lại tiền cọc 130.000.000 đồng (một trăm ba mươi triệu đồng) và bồi thường phạt cọc 430.000.000 đồng (bốn trăm ba mươi triệu đồng).
- Về chi phí sao lục hồ sơ, xem xét thẩm định tại chỗ, thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và chi phí giám định: Bà La Thị Kim C tự nguyện chịu toàn bộ và đã nộp xong.
- Về án phí án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Đặng Văn Q phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
Hoàn trả cho bà La Thị Kim C số tiền 10.900.000 đồng (mười triệu chín trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án ký hiệu: BLTU/23 số 0004819 ngày 29/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kiều Oanh |
Bản án số 15/2025/DS-ST ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 15/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
