Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIỒNG TRÔM

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 15/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 06/02/2025

“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Như Thắm

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan
  2. Ông Nguyễn Thanh Khoa

Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Bình Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Minh Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 547/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/01/2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 18/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20/01/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Ái N, sinh năm 1986. Địa chỉ: số B, ấp L, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre.
  2. Bị đơn: Ông Phạm Thanh Đ, sinh năm 1980. Địa chỉ: số B, ấp L, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre.

Tại phiên tòa, bà Lê Thị Ái N và ông Phạm Thanh Đ vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Lê Thị Ái N trình bày:

Bà và ông Phạm Thanh Đ đã chung sống với nhau và đăng ký kết hôn vào ngày 02/12/2011 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre. Hôn nhân do tự nguyện. Bà và ông Đ sống hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2024 thì xảy ra mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do hai bên bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi nên cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Hiện nay, bà N đã đi nơi khác sinh sống, hai bên không còn quan tâm đến nhau và đã ly thân từ đầu năm 2024 cho đến nay. Bà N không còn tình cảm với ông Đ, không có khả năng hàn gắn nên bà yêu cầu ly hôn với ông Đ.

- Về con chung: bà N và ông Đ trong thời gian chung sống có 01 con chung là Phạm Lê Kim N1, sinh ngày 15/5/2012. Hiện cháu N1 đang sống với ông Đ, sau ly hôn bà N đồng ý để ông Đ tiếp tục trực tiếp nuôi cháu N1 và bà N cấp dưỡng nuôi cháu N1 mỗi tháng là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) cho đến khi cháu N1 thành niên.

- Về tài sản chung: bà N khai bà và ông Đ có 01 căn nhà cấp 4 được xây dựng trên đất của mẹ (bà Nguyễn Thị Ái P), tuy nhiên bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: bà N khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình tố tụng, bị đơn ông Phạm Thanh Đ vắng mặt không lý do và không có văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu của bà Lê Thị Ái N.

* Tại phiên tòa:

Bà Lê Thị Ái N vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu giải quyết và xét xử vắng mặt đề ngày 30/12/2024.

Ông Phạm Thanh Đ vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm phát biểu quan điểm:

* Về tố tụng:

Trong thời gian chuẩn bị xét xử, Thẩm phán thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

* Về nội dung: Căn cứ các điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Ái N.

  • Về hôn nhân: bà Lê Thị Ái N được ly hôn với ông Phạm Thanh Đ.
  • Về con chung: ông Phạm Thanh Đ được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Phạm Lê Kim N1, sinh ngày 15/5/2012 cho đến khi con chung thành niên.
  • Bà Lê Thị Ái N cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng được tính kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung thành niên.
  • Về tài sản chung: bà Lê Thị Ái N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Về nợ chung: bà Lê Thị Ái N khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Nguyên đơn là bà Lê Thị Ái N khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre giải quyết ly hôn với bị đơn là ông Phạm Thanh Đ - cư trú tại số B, ấp L, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

Bà Lê Thị Ái N vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu giải quyết và xét xử vắng mặt; ông Phạm Thanh Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà Lê Thị Ái N, ông Phạm Thanh Đ.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về hôn nhân: bà Lê Thị Ái N và ông Phạm Thanh Đ tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên quan hệ hôn nhân của ông bà là hợp pháp, được pháp luật công nhận, bảo vệ. Trong thời gian chung sống, bà N cho rằng bà và ông Đ bất đồng quan điểm, hai bên thường xuyên cự cãi nên cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Hiện nay, bà N đã đi nơi khác sinh sống, hai bên không còn quan tâm đến nhau. Bà N không còn tình cảm với ông Đ nên bà xin ly hôn với ông Đ. Ông Đ mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải, không có văn bản thể hiện mong muốn hàn gắn với bà N và vắng mặt không lý do tại phiên tòa. Đồng thời, tại biên bản xác minh ngày 18/12/2024 thể hiện bà N và ông Đ thường xuyên cự cãi, bất đồng quan điểm. Từ đó có cơ sở xác định tình trạng mâu thuẫn giữa hai bên đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, xét yêu cầu ly hôn của bà N là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật tại các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2] Về con chung: bà Lê Thị Ái N và ông Phạm Thanh Đ chung sống với nhau có 01 con chung là Phạm Lê Kim N1, sinh ngày 15/5/2012. Hiện tại cháu N1 đang sống với ông Đ. Tại biên bản lấy ý kiến con từ đủ 07 tuổi trở lên ngày 13/12/2024, cháu N1 có nguyện vọng sống với ông Đ. Do đó, để đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống của cháu N1, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu N1 cho ông Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu N1 thành niên, tự lao động sinh sống được. Bà Lê Thị Ái N cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng được tính kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung thành niên.

[2.3] Về tài sản chung: bà N không yêu cầu giải quyết nên hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[2.4] Về nợ chung: bà N khai không có, không yêu cầu nên hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[2.5] Về án phí: bà N phải chịu án phí theo quy định theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 147, Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Ái N.

  1. Về hôn nhân: bà Lê Thị Ái N được ly hôn với ông Phạm Thanh Đ.
  2. Về con chung: Ông Phạm Thanh Đ được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Phạm Lê Kim N1, sinh ngày 15/5/2012 cho đến khi con chung thành niên.

    Bà Lê Thị Ái N cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng được tính kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung thành niên.

    Bà Lê Thị Ái N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

    Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án quyết định thay đổi việc cấp dưỡng cho con.

    Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

    Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc của cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  3. Về tài sản chung: bà N không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
  4. Về nợ chung: bà N khai không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
  5. Về án phí: bà Lê Thị Ái N phải chịu án phí là 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) bao gồm án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng và án phí cấp dưỡng là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0007463 ngày 25 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm. Bà Lê Thị Ái N còn phải nộp số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Phước Long;
  • - VKSND huyện Giồng Trôm;
  • - Chi cục THADS huyện Giồng Trôm;
  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Như Thắm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 15/2025/HNGĐ-ST ngày 06/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 15/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Ái Ngọc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với Phạm Thanh Điệp
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger